Xu Hướng 9/2023 # Lên Núi Tuyết Zao Nhật Bản Ngắm ‘Rừng Quái Vật’ Đầy Ma Mị Như Trong Phim # Top 12 Xem Nhiều | Hsnf.edu.vn

Xu Hướng 9/2023 # Lên Núi Tuyết Zao Nhật Bản Ngắm ‘Rừng Quái Vật’ Đầy Ma Mị Như Trong Phim # Top 12 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Lên Núi Tuyết Zao Nhật Bản Ngắm ‘Rừng Quái Vật’ Đầy Ma Mị Như Trong Phim được cập nhật mới nhất tháng 9 năm 2023 trên website Hsnf.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Núi tuyết Zao Nhật Bản được mệnh danh là “khu rừng quái vật” vào mùa đông vì vẻ đẹp độc đáo và kì bí của những thân cây được tuyết trắng bao phủ.

Núi tuyết Zao ở đâu?

Núi tuyết Zao Nhật Bản là một điểm đến rất hấp dẫn ở xứ sở Phù Tang vào  mùa đông. Dù cảnh vật nơi đây được mệnh danh như một “khu rừng quái vật”, song du khách vẫn thích mê khi có cơ hội trải nghiệm. 

Zao là ngọn núi cao hơn 1800 mét so với mực nước biển, có mùa đông phủ đầy tuyết trắng. Ảnh: @mssphuonglinh

Zao là một ngọn núi có độ cao hơn 1800 mét so với mực nước biển, nằm trên dãy núi thuộc tỉnh Yamagata. Thông thường, du khách sẽ lựa chọn đến Khu trượt tuyết suối nước nóng Zao để có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của núi Zao vào mùa đông tuyết trắng. 

Điểm đến này thuộc tỉnh Yamagata Nhật Bản. Ảnh: @amesweety85

Khu trượt tuyết này cách ga Yamagata từ 40 phút đến 1 giờ. Khi đến khu trượt tuyết suối nước nóng này, du khách tiếp tục hành trình đi cáp treo để có thể ngắm vẻ đẹp của núi Zao vào mùa đông trắng xóa. Vào những mùa còn lại trong năm, du khách có thể chọn trekking thay cho cáp treo.

Vẻ đẹp huyền bí của núi tuyết Zao Nhật Bản

Nhật Bản có nhiều địa điểm hấp dẫn nhưng du lịch Yamagata vào mùa đông rất được du khách yêu thích. Đến đây vào khoảng tháng 1 – 3 hàng năm, bạn có cơ hội chiêm ngưỡng hiện tượng Juhyo. Trong tiếng Nhật, đây là hiện tượng thụ băng, nghĩa là cây cối được băng bao phủ.

Mùa đông tuyệt đẹp trên núi Zao. Ảnh: @kawaijapanshop

Mùa đông đến, khi nhiệt độ xuống thấp khoảng -20 độ cũng là lúc núi tuyết Zao Nhật Bản khoác lên mình tấm áo choàng trắng xóa vô cùng độc đáo. Không giống những rừng tuyết, núi tuyết khác trên thế giới, Zao mang vẻ đẹp của sự kỳ bí. Đó chính là lý do mà nhiều du khách muốn đến đây check in cho bằng được. 

Những thân cây phủ đầy băng tuyết trông như “quái vật”. Ảnh: @s_yone0202

Chính hiện tượng thụ băng đã biến hàng nghìn thân cây trên dãy núi Zao trở thành những “con quái vật” với hình thù kỳ lạ. Đến đây, du khách có cảm tưởng như đi lạc vào thế giới của phim ảnh viễn tưởng mà nhân vật chính là những thân cây to lớn, được băng tuyết phủ trắng với dáng vẻ hầm hố đáng sợ.

Băng tuyết trắng xóa trên ngọn núi Zao. Ảnh: @pomechan_

Giải thích về hiện tượng Juhyo, các nhà nghiên cứu cho rằng hiện tượng này là sự kết hợp giữa tuyết và băng bồi đắp trên các cành và thân cây. Khi đông đến, luồng không khí lạnh thổi từSiberi xuống bị chặn lại giữa những ngọn núi chạy từ Bắc xuống Nam qua Tohoku. Những giọt nước trong không khí ngưng đọng và đóng băng trên các thân cây. 

Du khách hào hứng check in trong “rừng quái vật”. Ảnh: @priyokomizo

Khi gió bắt đầu ngừng thổi và tuyết rơi dày sẽ tiếp tục chồng chất lên những thân cây này, tạo nên hình thù kỳ quái và to lớn hệt các con quái vật. Có dịp khám phá núi tuyết Zao Nhật Bản vào mùa đông, bạn sẽ thấy không “con quái vật” nào giống con nào cả. Chúng mang hình thù khác nhau, với dáng vẻ đầy bí hiểm như trong truyện cổ tích.

Mùa đông đẹp lãng mạn trên núi Zao. Ảnh: @ride.atk

Trên thế giới cũng có nhiều nơi xảy ra hiện tượng thụ băng vào mùa đông. Tuy nhiên chỉ có núi Zao Nhật Bản là sở hữu khung cảnh đẹp hùng vĩ, huyền bí với số lượng cây cối bị thụ băng rất lớn. Đồng thời nơi đây cũng diễn ra nhiều hoạt động thể thao, du lịch và có các bể tắm nước nóng hoạt động quanh năm.

Khung cảnh hùng vĩ, huyền bí trên núi Zao vào mùa đông. Ảnh: @ito.k

Vì hiện tượng Juhyo trên núi Zao diễn ra quanh năm nên du lịch nơi này cực kỳ phát triển. Ở đây cũng hình thành nên khu trượt tuyết và tắm khoáng nóng, có thêm dịch vụ cáp treo để du khách dễ dàng ngắm “rừng quái vật” từ trên cao một cách trọn vẹn. Trải nghiệm đi cáp treo giúp bạn thu trọn tầm mắt cánh rừng trắng xóa, phủ đầy sương giá từ trên cao.

Khung cảnh ban đêm càng trở nên huyền bí. Ảnh: @kuuto1469

Vào ban đêm, rừng quái vật thuộc khuôn viên khu trượt tuyết được thắp thêm những ánh đèn đủ màu sắc, phản chiếu vào những “con quái vật trắng”, tạo nên một khung cảnh đầy ma mị, hứa hẹn mang lại loạt trải nghiệm thú vị cho khách du lịch khi đến đây. 

Du khách thường đến đây vào mùa đông để có những trải nghiệm hấp dẫn. Ảnh: @ctuuuu

Có rất nhiều hoạt động cho bạn trải nghiệm khi đến núi tuyết Zao Nhật Bản. Ngoài đi cáp treo ngắm cảnh, bạn còn được trượt tuyết, chụp ảnh thỏa thích trong thời gian từ tháng 10 – 12 hàng năm. Dĩ nhiên, bạn cần theo dõi tình hình thời tiết để nắm chắc khi nào có tuyết rơi và đến đây.

Sau khi khám phá núi Zao, bạn có thể tắm suối nóng để thư giãn. Ảnh: @staminagrowl

Bên cạnh trải nghiệm mùa đông đầy tuyết, du khách cũng có thể đến núi Zao từ tháng 5 – 10 để trekking lên miệng núi Okayama. Trung bình, du khách mất khoảng 4 tiếng để leo núi tùy điều kiện thể lực và thời tiết. Ngoài ra, nếu đến đây vào mùa xuân, bạn có cơ hội chiêm ngưỡng cây cối đâm chồi nảy lộc, mùa thu với rừng lá đỏ rực rỡ vô cùng đẹp.

Kinh nghiệm khám phá núi tuyết Zao Nhật Bản mùa đông

Núi tuyết Zao Nhật Bản đẹp 4 mùa trong năm nhưng hấp dẫn nhất là vào mùa đông. Từ đầu tháng 12, hiện tượng thụ băng trên núi bắt đầu diễn ra và kéo dài đến tháng 2 – 3, thu hút đông đảo du khách. 

Đi cáp treo là cách đơn giản để ngắm vẻ đẹp núi Zao từ trên cao. Ảnh: @akiko_o4

Vì thế, nếu muốn du lịch Nhật Bản để ngắm núi tuyết Zao, bạn nên lên kế hoạch đi vào mùa này sẽ hợp lý hơp. Đến đây, du khách vừa kết hợp ngắm núi tuyết, vừa trượt tuyết rất thú vị. Nếu không biết trượt tuyết, bạn cũng có thể thuê hướng dẫn viên để được hỗ trợ. 

Bạn sẽ có nhiều ảnh check in để đời trên núi Zao. Ảnh: @lilly__island

Hiện tại, để đi cáp treo ngắm núi tuyết Zao, khách cần đến Khu nghỉ dưỡng trượt tuyết suối nước nóng Zao.Giá vé cáp treo hai chiều là 2.800 yên và bạn có thể đặt vé từ 8h30 sáng đến 19h50 tối. Sau khoảng thời gian vui chơi trên núi, du khách có thể tắm suối nước nóng để thư giãn, nghỉ ngơi. 

Trượt tuyết, chơi đùa cùng tuyết là bộ môn mà du khách rất thích khi khám phá núi Zao. Ảnh: @hero_k23

Núi tuyết Zao Nhật Bản là một trong những điểm đến độc đáo của nước Nhật, sở hữu cảnh đẹp kỳ quái và ấn tượng. Có dịp đến đất nước mặt trời mọc vào mùa đông, bạn nhớ đi thăm núi Zao để có những trải nghiệm đặc biệt với “khu rừng quái vật” và mang về cho mình nhiều ảnh check in độc đáo.

Ảnh: Instagram

Đăng bởi: Nguyễn Mạnh Quang

Từ khoá: Lên núi tuyết Zao Nhật Bản ngắm ‘rừng quái vật’ đầy ma mị như trong phim

10 Bài Phân Tích Nhân Vật Mị Châu Và Trọng Thủy Trong “An Dương Vương Và Mị Châu

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 10

Trọng Thủy làm rể của An Dương Vương. Mọi nguyên nhân bi kịch trước hết bắt đầu từ An Dương Vương khi đã để tình riêng lấn át tầm nhìn của một đấng minh quân. Nhất là, kẻ ở rể lại phục vụ cho dã tâm của Triệu Đà – lấy bí quyết nỏ thần để cướp nước.Sự mất cảnh giác đáng trách của An Dương Vương làm mất nước đã đành , nhưng hậu quả của nó mang ý nghĩa bi kịch là làm nên cảnh sinh li tử biệt, tan vỡ tình duyên của Mỵ Châu – Trọng Thủy.

Mặc dù truyền thuyết được ghi lại bởi người đời sau hết sức ngắn gọn, nhưng cốt lõi của bi kịch ấy vẫn thật rõ ràng: mối quan hệ thông gia của hai nhà vốn dĩ đối địch tiềm ẩn những bất trắc khó lường. Vậy mà An Dương lại “vô tình” gả con gái yêu của mình cho con trai kẻ thù.Theo mạch kể của truyền thuyết không có những lí giải về nguyên nhân sâu xa khiến cho Mị Châu đã tiếp tay cho Trọng Thủy đánh cắp lẫy nỏ thần Kim Qui. Nhưng theo mạch truyện, Mị Châu rõ ràng đã tin Trọng Thủy đến với nàng bằng cả tấm chân tình.

Sự ngây thơ ấy của cá nhân nàng là điều có thể tha thứ, nhưng vì tình riêng mà để lộ bí mật quốc gia thật sự là một tội lỗi khó dung tình.Đáng trách hơn, tình yêu ấy thiếu lí trí sáng suốt đế nỗi nàng không nhận ra được những ẩn ý trong lời nói của Trọng Thủy khi từ biệt để cảnh báo với vua cha. Nàng không đủ tỉnh táo để nhận ra trong lời chồng tiềm tàng hiểm hoạ binh đao: “Ta nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hoà, bắc nam cách biệt, ta lại tìm nàng lấy gì làm dấu?”. Mị Châu mê muội đếm mức không thể nói một lời hỏi nguyên cớ chia lìa, lại chỉ chăm chăm nghĩ về sự đoàn tụ lứa đôi. Đặt tình riêng lên trên vận mệnh quốc gia như vậy quả thật đáng phê phán.

Đằng sau tình duyên Mỵ Châu – Trọng Thủy là cả một âm mưu thôn tính thâm hiểm của Triệu Đà, không ai khác kẻ thực hiện gian kế ấy lại là Trọng Thủy. Hắn ngay từ khi đạt chân đến Loa Thành làm rể đã đặt nhiệm vụ gián điệp lên hàng đầu. Bỉ ổi hơn, hắn đã lợi dụng ngay người vợ ngây thơ để thực hiện gian kế mĩ mãn. Xét về bản chất Trọng Thủy là một kẻ gian trá và tham lam: lừa gạt vợ để lấy vuốt Rùa Vàng, vừa âm mưu cướp được nước, vừa muốn được chiếm đoạt trọn vẹn trái tim của Mị Châu. Từ thủ phạm, hắn đã biến thành nạn nhân của chính mình. Không thể nào có sự dung hoà giữa quyền lợi quốc gia với tình yêu đôi lứa khi thù địch là cái mầm hoạ tiềm ẩn trong mối quan hệ vợ chồng.

An Dương Vương mất nước từ sự thiếu cảnh giác, khinh địch của mình. Bản thân nhà vua mong mỏi hoà hiếu giữa hai quốc gia, chấm dứt cảnh đao binh từ duyên tình con trẻ. Nhưng trớ trêu thay, đó lại là chỗ hở để kẻ dã tâm là cha con Triệu Đà lợi dụng. Bản thân An Dương Vương cũng phải gánh chịu bi kịch khi tuốt gươm trừng phạt kẻ phản bội là chính con gái yêu của mình, nhà vua đã đứng trên quyền lợi quốc gia mà gạt bỏ tình riêng, hành động ấy được trân trọng bằng cách xử lí của dân gian: Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua xuống biển. Mị Châu phải trả giá bằng sự nông nổi của mình, nhưng nàng cũng kịp thức tỉnh để nhận ra bi kịch của mình. Một người con gái ngây thơ trong trắng đáng yêu bị phản bội, cuối cùng nàng đã nhận ra bộ mặt kẻ thù dù quá muộn màng.

Cái nhìn nhân hậu của nhân dân ta đã dành cho Mị Châu khi để nàng hoá thân thành ngọc thạch, máu hoá thành hạt châu nhưng cũng thật công bằng khi từ lập trường yêu nước trừng trị kẻ có tội. Mị Châu quả thật đáng trách nhưng cũng thật đáng thương. Truyền thuyết không còn chỉ kể lại trang sử mất nước mà chứa đựng cái nhìn thương cảm cho lứa đôi – khi tình yêu phải đối mặt với âm mưu.

Trọng Thủy đã phải trả giá cho sự lừa dối khi hắn chỉ còn mang được xác Mị Châu về chôn cất. Với kẻ cướp nước, nhân dân ta không để cho hắn chiếm đoạt và tiếp tục lừa phỉnh Mị Châu. Nhưng điều đáng nói hơn là cái chết lao đầu xuống giếng của Trọng Thủy và kết thúc câu chuyện: “Người đời sau mò được ngọc trai ở biển Đông, lấy nước giếng mà rửa, thì thấy trong sáng thêm”. Sự lừa dối nhơ nhớp của Trọng Thủy là lời cảnh tỉnh : chỉ có tình yêu chân thành mới được đền đáp xứng đáng, không thể nào tình yêu đồng hành với những toan tính thấp hèn, tham vọng cướp nước.

Truyền thuyết Mỵ Châu – Trọng Thủy muôn đời vẫn còn giá trị từ ý nghĩa nhân văn, từ bài học cảnh giác cũng như lời nhắc nhở về cách giải quyết các mối quan hệ riêng – chung, cá nhân – cộng đồng. Câu chuyện bi kịch thấm thía ấy cũng là sư ïthể hiện lập trường và tình cảm rõ ràng của nhân dân ta trước các vấn đề lịch sử và quan hệ con người.

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 9

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 10

Trong chuỗi những truyền thuyết hào hùng về thời kỳ dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, truyền thuyết về An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy là tác phẩm tâm đắc nhất. Đọc xong câu chuyện, người đọc không thể không suy tư về cuộc đời của Mị Châu, một cô gái dịu hiền xinh đẹp, trọng nghĩa trọng tình lại phải chịu một cái kết oan ức và xót xa hơn bao giờ hết.

“Tôi kể ngày xưa truyện mị châu

Trái tim lầm chỗ để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu”

Mị Châu là cô công chúa xinh đẹp tuyệt trần của An Dương Vương, ngây thơ và trong sáng. Nàng không thể giải quyết được lý và tình, giữa hiếu và nghĩa để rồi cuối cùng phải chịu cái chết oan ức. Qua truyền thuyết, người đọc cũng có thể cho rằng Mị Châu là một kẻ phản nghịch vì nàng đã trực tiếp tiếp tay cho giặc, bán nước hại cha nhưng sự thật là Mị Châu đã trở thành tội phạm vì nàng đã quá ngây thơ, tin tưởng người khác, tin vào tình yêu mà đã vô tình quên đi đất nước, quên đi cha mình. Chính sự tin yêu mù quáng đó cho nên Mị Châu đã trực tiếp tạo nên tấn bi kịch của lịch sử này.

Chúng ta đã thấy hai lần Mị Châu vì nhẹ dạ cả tin cho nên đã vô tình tiếp tay cho giặc. Lần thứ nhất là vào đêm tâm sự, khi mà Trọng Thủy ngỏ ý muốn xem nỏ thần thì nàng đã không hề ngần ngại và lấy cho chồng xem, tiết lộ bí mật về chiếc nỏ cho Trọng Thủy. Nàng vừa đáng thương lại vừa đáng trách bởi nàng đã đem bí mật, vận mệnh đất nước đề làm đẹp thêm tình vợ chồng nhưng đáng thương ở chỗ nàng cả tin ngây thơ yêu chàng, và muốn chiều theo ý chồng, lại là người phụ nữ ở xã hội xưa thì càng nói lên rõ về điều đó.

Lần thứ hai là trong ngày tiễn biệt, cũng chỉ vì chữ yêu, yêu tới mù quáng cho nên Mị Châu đã không hề mảy may nghi ngờ gì về câu hỏi đầy dụng ý, cũng không hề nhận ra âm mưu của chồng mình, nàng đã trả lời thành thật rằng: “Thiếp có cái áo lông ngỗng, hễ thiếp chạy phương nào, thiếp sẽ rắc long ngỗng dọc đường, chàng cứ theo dấu long ngỗng mà tìm”. Nàng cũng không hề biết rằng chính hành động đó đã dẫn đường cho giặc.

Và cũng suy cho cùng thì nàng cũng đáng thương bởi một cô gái ngây thơ, vô tư như nàng không hề nhận ra tâm địa đó mà chỉ luôn mong ngóng ngày chồng đi trở về bên mình, đó là ý nghĩ của nàng khi sợ chàng không tìm được cho nên đã nói như thế. Tình yêu đã làm u mê con người,u mê tới nỗi ngồi sau lưng nhưng mà nàng vẫn giữ lời hứa bứt lông ngỗng rải ở dọc đường đi, tới lúc này mà vẫn còn hành động mu muội như thế thì thực là một sai lầm nghiêm trọng không thể nào tha thứ được.

Cuối cùng nhân dân đã thông cảm cho Mị Châu. Nàng đã phải đền tội dưới lưỡi kiếm của cha mình bằng sinh mạng của mình, Tội đã đền nhưng oan ức thì mãi còn đó, cho tới cuối cùng thì người con gái thủy chung bị lừa dối lên tiếng nói rằng “Thiếp là phận gái, nếu có,lòng phản nghịch chết đi sẽ hóa thành hạt bụi, còn nếu một long trung hiếu mà bị người lừa dối chết đi sẽ hóa thành châu ngọc để tẩy sạch mối thù nhục và tỏ dạ trắng trong”.

Hình ảnh ngọc châu mà Mị Nương nhắc tới không còn là biểu tượng của một tình yêu trong trắng nữa mà chỉ minh giải cho nỗi oan của nàng. Bài học về Mị Châu là bài học chua xót vì đã quá cả tin thiếu suy nghĩ, là bài học cảnh tỉnh cho tất cả mọi người “trái tim để trên đầu” như nhà thơ Tố Hữu đã “tâm sự” một cách sâu sắc, thấm thía.

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 9

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 8

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 9

Đã bao thế hệ đã qua đi, có những cuộc tình đã trở thành huyền thoại như Chử Đồng Tử và Tiên Dung, nhưng cũng có những mối duyên tình hay đúng hơn là mối oan tình khiến lòng người đau xót đến ngàn năm như Mị Châu – Trọng Thủy. Giếng Mị Châu ở Đông Anh vẫn còn đó, bên cạnh bài học về việc đề cao cảnh giác với kẻ thù, tấm oan tình vẫn còn để lại những bài học nhân văn sâu sắc về tình yêu, về hạnh phúc.

Bằng còn mắt nhân đạo của nhân dân, bằng những gì chúng ta luôn muốn tin và đã tin mỗi khi đọc những trang viết về tình yêu Mị Châu Trọng Thủy, ta có thể coi đây là một cuộc tình đẹp theo đúng nghĩa của nó. Mị Châu là con gái của Thục phán An Dương Vương, một công chúa xinh đẹp, ngây thơ, trong sáng. Còn Trọng Thủy lại là một hoàng tử giỏi giang, thạo việc cung kiếm binh đao. Mối lương duyên giữa đôi Tiên Đồng – Ngọc Nữ từ cái thuở Văn Lang – Âu Lạc này không thể phủ nhận rằng không đáng ngưỡng mộ và mơ ước, Bản thân tôi và có lẽ tất cả mọi người cũng luôn tin rằng, họ đã có những năm tháng hạnh phúc, quấn quýt bên nhau trong tình yêu đôi lứa mặn nồng.

Đã có lúc Trọng Thủy muốn ngỏ với Mị Châu những mưu toán, tính toán độc ác của cha mình để cứu nàng khỏi họa binh đao đầu rơi máu chảy. Vậy thì sao có thể nói rằng tình yêu của Trọng Thủy chỉ là sự dối trá, lừa lọc cho được. Chỉ trách sao cho nghĩa tình phu phụ và tấm lòng trung hiếu không thể dung hòa, trách sao cho Trọng Thủy lại quá tham lam để phá vỡ mất mối nhân tình đẹp tựa mộng ước này. Cho đến khi Mị Châu chết đi, chàng vẫn một lòng ôm ấp lấy hình bóng nàng để rồi chết đi trong nỗi ân hận day dứt vì một tình yêu chưa được trọn vẹn. Tình yêu của chàng lúc này, cái chết của chàng lúc này phải chăng cũng chỉ là một sự lừa dối. Nhưng có còn gì để dối lừa nữa đâu khi Mị Châu đã chết, Triệu Đà đã đạt được tham vọng của mình. Sự ra đi này của Trọng Thủy chỉ có thể là một lời xin lỗi, một sự cứu vớt muộn màng cho tình yêu đã mất. Để rồi khi hóa kiếp sau, hai người lại có thể yêu nhau trọn đời trọn kiếp không phai….

Nhưng trớ trêu thay, nếu tình yêu kia đẹp đẽ như thế, cứ bằng phẳng và ngọt ngào như thế thì sẽ chẳng có mối oan tình Mị Châu Trọng Thủy tạc dấu đến ngàn năm trên bia đá lịch sử Việt Nam. Dù muốn đến đâu đi chăng nữa thì chúng ta cũng không thể phủ nhận được rằng, cuộc hôn nhân đẹp đẽ của Mị Châu – Trọng Thủy lại xuất phát từ một động cơ chẳng mấy tốt đẹp. Trọng Thủy sang làm rể An Dương Vương trước là vì muốn do thám đất nước Âu Lạc, sau mới là vì tình yêu với Mị Châu. Tình cảm của chàng có thể là chân thành, là tốt đẹp đấy nhưng từ xưa đến nay, chỉ có tình yêu chân thành mới được đền đáp xứng đáng, không thể nào có thứ tình yêu đồng hành với những toan tính thấp hèn, với tham vọng cướp nước. Để rồi khi người ta muốn đi ngược lại chân lý thì cũng là lúc bi kịch bắt đầu.

Một Mị Châu nhẹ dạ cả tin, hết lòng tin tưởng chồng mà chẳng chút mảy may nghi ngờ, chẳng chút đề phòng cảnh giác. Một Trọng Thủy vừa muốn trọn nghĩa với non sông, vừa muốn vẹn tình với gia đình, với người vợ thân yêu mà chàng hết mực yêu thương. Niềm tin ấy, khát khao ấy tưởng chừng như chẳng có gì đáng trê trách, phê phán nhưng chính nó lại là nguyên nhân dẫn đến bi kịch tình yêu của hai người. Mị Châu rõ ràng đã tin tưởng rằng, Trọng Thủy đến với nàng bằng cả tấm chân tình. Sự ngây thơ ấy của cá nhân nàng là điều có thể tha thứ nhưng vì tình yêu mà để lộ bí mật quốc gia thật sự là một tội lỗi khó dung tình. Đáng trách hơn nữa, tình yêu ấy thiếu lý trí và sáng suốt đến nỗi nàng không đủ tỉnh táo để nhận ra lời nói của chồng khi li biệt tiềm ẩn họa binh đao “Ta này trở về, nếu như hai nước thất hòa ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu”.

Mị Châu mê muội đến mức không thể nói một lời hỏi nguyên cớ khi chia lìa mà chỉ chăm chăm nghĩ về sự đoàn tụ lứa đôi. Sự nông nổi của Mị Châu vẫn còn tiếp tục khi quân Triệu Đà sang xâm lược Âu Lạc, nàng theo cha chạy trốn mà vẫn không quên việc rắc lông ngỗng dọc đường để làm dấu cho Trọng Thủy. Cho đến lúc này thì tình yêu của Mị Châu chẳng thể được gọi là ngây thơ, trong sáng mà chỉ còn là sự mê muội, mù quáng. Nó đã hại chết cả một dân tộc Âu Lạc đang trên đà phát triển, hại chết cả người cha thân yêu bao năm gắn bó với nàng. Cái chết của Mị Châu âu cũng là một sự đền tội, một lời thanh minh cho tấm lòng trong sạch nhưng bị người lừa dối, phụ bạc của nàng.

Mị Châu ra đi nhưng thân xác nàng không hóa thành cát bụi, máu nàng đã hóa thành ngọc trai – viên ngọc sáng được rửa bằng máu và nước mắt, bằng cả cuộc đời trong sạch của nàng. Người ta thường cho rằng, cái chết là sự kết thúc tốt đẹp nhất cho những bi kịch. Nhưng bi kịch này vừa qua đi thì bi kịch khác lại được tiếp nối, Mị Châu chết đi để lại mối oan tình ai oán đến ngàn năm. Khi nàng còn sống, còn hết lòng tin tưởng Trọng Thủy thì chàng lại phản bội. Còn khi Mị Châu đã ra đi, mang theo sự oán giận, căm thù kẻ lừa dối, người phụ tình thì Trọng Thủy mới hối hận, mới ôm xác nàng trở về trong nỗi dằn xé cõi lòng, trong sự đau đớn đến tột cùng vì không kịp níu giữ một tình yêu muộn màng đã qua. Trong mắt nhân dân Âu Lạc, có thể Trọng Thủy là một tên giặc, một tên gián điệp xấu xa nhưng thực sự chàng cũng chỉ là một nạn nhân của chiến tranh, của tham vọng quyền lực và tình yêu.

Để rồi khi công đã thành, danh đã toại, người đàn ông ấy lại mang theo nỗi thương nhớ người vợ dấu yêu mà nhảy xuống giếng tự vẫn. Nhưng dù nước giếng Trọng Thủy có thể rửa sạch ngọc Mị Châu thì tình yêu giữa hai người cũng chẳng thể nào trở lại như xưa. Một khi lòng tin đã tan vỡ, khi Mị Châu đã phải trả giá cho sự mê muội của mình bằng cả tính mạng thì tin chắc rằng nàng chẳng bao giờ còn có thể mù quáng lần thứ hai để hi sinh cuộc đời mình cho một thứ niềm tin vô nghĩa.

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 7

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 8

Mị Châu – Trọng Thủy, một mối tình có lẽ gây nhiều sự chú ý và tranh cãi nhất trong truyền thuyết Việt Nam. Vì yêu, vì hiếu nên họ đã mắc phải những sai lầm to lớn khiến mình phải đi vào con đường chết. Mị Châu chết hóa thành ngọc trai, còn Trọng Thủy vì thương vợ nên cũng chết trong giếng gần nơi táng Mị Châu. Ngọc trai càng rửa nước giếng này càng trong. Kết cục này vừa cảm động vừa ẩn chứa nhiều ý nghĩa sâu xa.

Theo truyền thuyết, thời Âu Lạc, vua An Dương Vương được Rùa Vàng tặng cho một chiếc vuốt làm nỏ thần để đánh giặc. Cứ lấy nỏ bắn là giặc sẽ thua. Lần đầu tiên, quân Đà sang đánh, vua An Dương Vương ứng nghiệm chiếc nỏ thần. Quả thật, quân Đà thua to. Ít lâu sau, con trai Đà sang cầu hôn với công chúa. Vua không để ý nên đã vô tình gả con gái cho kẻ đã bị mình đánh bại. Đúng như âm mưu trước đó, Trọng Thủy đã dỗ Mị Châu cho xem trộm chiếc nỏ thần rồi ngầm làm một cái khác thay thế vào đó. Trong lúc chia ly, Mị Châu dặn Trọng Thủy nếu sau này hai đất nước loạn lạc, Mị Châu đi đâu sẽ rắc lông ngỗng đến đó để làm dấu cho Trọng Thủy tìm cứu nàng. Mất nỏ, vua An Dương Vương không hề biết nên khi quân Đà sang khiêu chiến, vua đã chủ quan và để mất nước Âu Lạc.

Vua dẫn con gái chạy theo phí bờ biển. Mị Châu ngồi sau cha rắc lông ngỗng làm dấu cho Trọng Thủy đúng như lời ước hẹn. Đến bờ biển, vua cha kêu sứ Thanh Giang, rùa vàng nổi lên vào bảo quân giặc ngay phía sau lưng. Ngay lập tức, vua tuốt gươm chém chết Mị Châu. Mị Châu chưa hiểu rõ vì sao lại bị cha chết, nàng khấn rằng: “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Mị Châu chết ở bờ biển, máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải đề biến thành hạt châu. Khi Trọng Thủy đến chỉ còn lại xác Mị Châu. Trọng Thủy ôm xác Mị Châu đem về táng ở Loa Thành, xác biến thành ngọc thạch. Trọng Thủy thương tiếc khôn cùng, khi đi tắm tưởng như thấy bóng dáng Mị Châu, bèn lao đầu xuống giếng mà chết.

Như vậy, sau những sai lầm tai hại, cả hai đã cùng chết bên nhau. Đặc biệt, ngọc trai khi mang rửa ở giếng nước nơi Trọng Thủy chết, càng rửa ngọc càng sáng. Có nhiều ý kiến trái chiều nhau về cái chết của Mị Châu. Có người cho rằng: Mị Châu đã ngheo theo lời Trọng Thủy cho xem trộm chiếc nỏ thần chỉ là việc thuận theo tình cảm vợ chồng mà bỏ quên nghĩa vụ với đất nước. Lại có kiến nói Mị Châu làm theo ý chồng là lẽ tự nhiên, hợp đạo lý. Vậy ý kiến nào đúng, ý kiến nào sai? Xét về việc cho Trọng Thủy xem trộm nỏ thần, Mị Châu làm việc này hoàn toàn không hề có âm mưu gì, nàng cũng không biết được ý định của Trọng Thủy đánh cắp chiếc nỏ thần và thay thế chiếc khác.

Chưa hết, khi cùng vua cha chạy trốn, nàng còn dứt lông ngỗng trên áo làm dấu cho Trọng Thủy đuổi theo với mong muốn chồng sẽ cứu mình đúng như lời ước hẹn trước đó. Nhưng lại một lần nữa, Mị Châu tiếp tay cho giặc mà không hề hay biết. Trong suy nghĩ của nàng, việc làm này hoàn toàn đúng đắn và nên làm, vì “thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh biệt li thì đau đớn khôn xiết”. Nếu như Trọng Thủy không phải con trai Đà, không phải kẻ địch của Âu Lạc thì có lẽ những gì Mị Châu làm hoàn toàn xứng đáng và hợp tình hợp lý. Nhưng thật éo le vì những việc làm mang ý nghĩa tình cảm vợ chồng sâu nặng của Mị Châu lại làm cho đất nước rơi vào tay kẻ địch. Giây phút cuối cùng của cuộc đời khi bị vua cha kết án là giặc, Mị Châu mới chợt nhận ra mình bị lừa.

Nhưng tất cả đã quá muộn. Nàng không chối, cũng không kêu oan mà chỉ khấn sẽ thành cát bụi nếu mình là kẻ phản nghịch, ngược lại nếu lòng nàng trong sáng, chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù. Quả nhiên, khi Mị Châu chết, máu của nàng chảy xuống biển, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu. Như vậy, nỗi oan của Mị Châu đã được giải. Chỉ tiếc rằng nàng đã chết, chết một cách bất ngờ đầy tiếc thương.

Cái chết của Mị Châu vừa chứng minh được tấm lòng trong sạch của nàng, vừa thể hiện hai phẩm chất đạo đức tốt đẹp trong nàng: thứ nhất, Mị Châu là một người vợ chung thủy, nặng nghĩa tình. Thứ hai, nàng là một người con gái hiếu thảo, có tấm lòng trong sáng rất đáng trân trọng. Đồng thời, Mị Châu chết một phần lớn vì sự chủ quan của vua cha. Lẽ ra khi gả con gái, vua phải xem xét kỹ lưỡng xuất thân của con rể. Mặt khác, nỏ thần là vật báu quý hiếm, vua phải kiểm tra thường xuyên và cất giữ thật cẩn thận. Nhưng vua An Dương Vương đã không làm điều đó. Cho đến giây phút cuối cùng, ông phải đành lòng chém chết đứa con gái yêu dấu khi nghe Rùa Vàng kết án chính kẻ ngồi sau là giặc.

Về phần Trọng Thủy, chàng đáng trách nhưng cũng đáng thương. Vì việc lấy nỏ trộm nỏ thần là do cha Trọng Thủy sai bảo. Mặc dù việc vua Đà đến đánh chiếm Âu Lạc, nhưng khi đưa sự việc ra đánh giá khách quan, khi đặt sự việc vào thời thế của đất nước, ta lại thấy Trọng Thủy làm đúng. Vì dù tình nghĩa vợ chồng sâu nặng nhưng chàng vẫn coi trọng việc nước hơn. Chàng hi sinh hạnh phúc riêng của mình cho đất nước. Chỉ tiếc rằng, cuộc chiến ấy lại là cuộc chiến phi nghĩa. Nếu là chính nghĩa thì Trọng Thủy sẽ trở thành một người hùng đẹp tuyệt vời. Trọng Thủy tuy là địch, tuy vâng lời cha lấy trộm nỏ thần nhưng mặt khác chàng không hề đối xử tệ bạc với vợ là con gái của vua An Dương Vương – người đã đánh bại cha mình. Khi vợ chết, Trọng Thủy vì thương nhớ mà cũng chết dưới giếng gần nơi chôn Mị Châu. Khi lấy ngọc đem rửa nước giếng này thì càng rửa càng sáng. Có lẽ Mị Châu đã thầm tha thứ cho Trọng Thủy. Và cả dân gian khi tạo nên cái kết này cũng đã dành sự cảm thông cho cả hai vợ chồng.

Bi kịch đau thương, đầy éo le và oan ức này đã làm cho người đọc không khỏi day dứt. Nhưng một mặt khác, nhân dân muốn qua câu chuyện để nhắn nhủ đến thế hệ trẻ sau rằng: Ở trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải thật tỉnh táo, xem xét mọi sự việc thật kỹ lưỡng. Tuyệt đối không bao giờ được chủ quan. Nhất là những việc hệ trọng như giữ nước càng phải cẩn thận, phải biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân, biết xả thân vì nghĩa, biết cân nhắc mọi hành động đúng, sai.

Cái chết của hai vợ chồng đã làm cho nhiều người trẻ thức tỉnh. Vì hiện nay trong xã hội có không ít những kẻ dùng mọi thủ đoạn để trục lợi cá nhân. Họ phụ vợ, phụ chồng, phụ nhau để đạt được những mục đích riêng của mình. Qua câu chuyện, mỗi người hãy tự nhìn nhận lại bản thân, để cùng hướng đến cuộc sống mới, cuộc sống với những hành động và lý tưởng tốt đẹp.

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 6

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 7

Nếu ai đã từng đến xã cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội hẳn không thể không tìm đến với những dấu tích của thành cổ Loa xưa, nơi có giếng Trọng Thuỷ, còn gọi là giếng Ngọc, đền Thượng thờ An Dương Vương, am Bà Chúa thờ Mị Châu, chứng tích gợi nhớ đến một thời “xây thành – chế nỏ”, của một bi kịch tình yêu được thần kì hoá. Truyền thuyết về An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ đã đi vào đời sống tâm linh của nhân dân ta và trở thành một nét văn hoá tín ngưỡng không thể thiếu. Cả ba nhân vật chính trong tác phẩm cuối cùng đều phải nhận lấy những kết cục khác nhau nhưng có lẽ đáng giận và cũng đáng thương nhất là nhân vật Mị Châu.

Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ có thể chia thành hai phần. Phần thự nhất là bài học giữ nước rút ra từ những thành công của An Dương Vương và quan trọng hơn là phần thứ hai của bài học giữ nước rút ra từ sự mất cảnh giác của An Dương Vương và nhất là sự ngây thơ nhẹ dạ (và cả mất cảnh giác) của Mị Châu trong tình yêu và trong việc giải quyết mối quan hệ giữa hạnh phúc cá nhân riêng tư với quyền lợi của dân tộc, đất nước. Cả hai bài học đều quan trọng như nhau. Bi kịch mất nước bắt nguồn từ sự mất cảnh giác của An Dương Vương.

An Dương Vương quá mơ hồ về bản chất tham lam, độc ác nham hiểm của kẻ thù nên đã nhận lời kết tình thông hiếu; giặc kéo vào lại chủ quan không có phòng bị gì nên bị thua chạy thảm hại. Sau nữa, nó lại được tạo điều kiện từ sự nhẹ dạ, cả tin của Mị Châu. Vô tình tiếp tay cho hành động xâm lược của kẻ thù, Mị Châu vừa đáng giận, đáng trách lại vừa đáng thương. Mị Châu đáng giận vì nàng đã phạm phải những sai lầm lẽ ra không thể có ở một nàng công chúa con vua. Nỏ thần là bí mật quốc gia, là sức mạnh bí ẩn lậm nên sự bách chiên bách thắng của nước Đại Việt, vậy mà, vì thứ tình cảm vợ chồng cá nhân, riêng tư, để thoả mãn điều mà nàng cho là trí tò mò của chồng mà đã lén lấy nỏ cho chồng xem, để đến nỗi nỏ thần bị đánh tráo mà không biết.

Làm lộ bí mật quốc gia cho một kẻ sẵn có âm mưu xâm lược, Mị Châu đã không thể ngờ hậu quả những hành động của mình nghiêm trọng đến nhường nào. Hành động rắc lông ngỗng khi ngồi sau yên ngựa của cha để chạy thoát thần cũng chỉ là một hành động vô tình, bởi: Thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh biệt li thì đau đớn khôn xiết. Thiếp có áo gấm lông ngỗng thường mặc trên mình, đi đến đâu sẽ rứt lông mà rắc ỡ ngã tư đường để làm dấu, như vậy có thể cứu được nhau. Chỉ đơn thuần là nghĩ đến hạnh phúc của cá nhân mình nhưng cuối cùng không thể cứu nhau mà lại còn là dấu cho quân giặc đuổi theo, để cuối cùng nàng phải chịu cái chết như một kề “giặc trong”. Sai lầm và tội lỗi của Mị Châu là không thể chối cãi và nàng bị kết tội một cách hoàn toàn đích đáng. Cũng nhờ thế mà bài học, về tinh thần cảnh giác càng trở nên thấm thìa và sâu sắc.

Tuy vậy, dân gian cũng vẫn luôn rất công bằng và đầy lòng nhân ái. Người xưa chỉ ra lỗi lầm của Mị Châu nhưng cũng tìm thấy ở đó những căn nguyên sâu xa khiến cho ta thấy thực ra nàng cũng chỉ là một nạn nhân, một nạn nhân thật đáng thương. Sai lầm của nàng xuất phát đầu tiên là từ sai lầm của An Dương Vương. An Dương Vương gả Mị Châu cho Trọng Thuỷ cũng đồng nghĩa với việc nhà vua đã trao cho nàng những nghĩa vụ trách nhiệm của một người vợ là cũng phải theo chồng. Đấy là chưa kể đến việc tình yèu và nghĩa vợ chồng có thể làm làm lu mờ nghĩa vụ và trách nhiệm. Mị Châu vì quá cả tin mà đã không thể ngờ được người chồng của mình lại là một kẻ “gián điệp”; thế nên mới mang bí mật của nước mình mà san sẻ với Trọng Thuỷ như một câu chuyện san sẻ thường hay gặp ở những cặp vợ chồng.

Cũng giống như việc tiết lộ bí mật nỏ thần làm cho quân nước nhà bại trận, việc rắc áo lông ngỗng một lần nữa lại vô tình chỉ lối cho kẻ thù đuổi theo hai cha con. Hai lần nàng liên tiếp phạm lỗi mà không hề ý thức được sai lầm mình đang mắc phải. Tội lỗi được gây nên chính từ sự ngây thơ, cả tin nên thật đáng thương. Việc Rùa Vàng kết tội Mị Châu làm giặc tuy đẩy nhân vật đến số phận bi thảm nhưng lại là một kết thúc cần thiết theo quan niệm của nhân dân. Rõ ràng là Mị Châu có tội. Tội trực tiếp gây nện mất nước ấy của nàng xứng đáng phải nhận lấy cái chết. Đó là bài học cần thiết để răn dạy tinh thần đề cao cảnh giác trong sự nghiệp gìn giữ đất nứớc.

Phế phán Mị Châu bằng “bản án tử hình” nhân dân cũng thấu hiểu rằng nầng mắc tội không phải do chủ ý mà là vô tình, ngây thơ, nhẹ dạ và cả tin. Bởi thế, họ đã khuôn xếp cho nàng được biến thành ngọc trai đúng như lời nguyền trên bờ biển. Máu Mị Châu chảy xuống biển, trai sò ăn được thì đều biến thành ngọc châu, xác đem về táng ở Loa Thành thì biến thành ngọc thạch. Mị Châu bị trừng phạt cho những tội lỗi nhưng cũng đã được chiêu tuyết cho tâm hồn trong sáng và ngây thơ của mình. Hình ảnh ngọc trai – giếng nước ở cuốì tác phẩm là một sáng tạo đến mức hoàn mĩ. Nó thuộc về thái độ ứng xử vừa nghiêm khắc, vừa nhân đạo vừa thấu lí đạt tình của nhân dân ta.

Nhân vật Mị Châu vã kểt cực của nàng đã khiến cho chúng ta vừa giận, lại vừa đồng cảm và xót thương sâu sắc. Mong rằng ở một thế giới khác, nàng đã tự nhận ra được bài học cho bản thân mình mà có một cuộc sống đúng đắn và thanh thản hơn. Và khi ấy, số phận Mị Châu sẽ khác…

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 6

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 5

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 6

Trong mỗi câu chuyện truyền thuyết đều thể hiện thời kỳ dựng nước và giữ nước của Việt Nam ta từ xưa tới nay. Trong đó, truyền thuyết “An Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thủy” là một tác phẩm vô cùng tiêu biểu, để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc.

Đọc xong câu chuyện, người đọc không thể nào không suy nghĩ đến nhân vật Mị Châu, một người con gái nết na xinh đẹp, nhưng có chút ngây thơ khờ khạo để rồi phải trở thành tội nhân thiên cổ, và chết trong đau đớn. Mị Châu chính là con gái yêu kiều của của vua An Dương Vương, nàng nổi tiếng là cô gái xinh đẹp, trong sáng, ngây thơ, đoan trang đức hạnh, có có gì để phê phán. Nhưng chính âm mưu thâm độc của Trọng Thủy đã khiến cho nàng rơi vào  tình trạng không thể giải quyết trọn vẹn giữa hiếu và tình, Mị Châu trở thành kẻ tội đồ phản nghịch bán nước hại dân “cõng rắn cắn gà nhà” làm cho nhân dân lầm than, vua cha mất nước.

Thông qua truyền thuyết thì ta có thấy rằng Mị Châu là một người phản nghịch, một người con không biết nghĩ tới toàn cục. Một người vợ ngây thơ cả tin quá tin tưởng vào người chồng của mình để rồi bị lừa dối, bị phản bội, bản thân nàng cũng nhận hậu quả đáng thương.

Nhưng nếu nói rộng ra chúng ta không thể nào trách cứ Mị Châu, bởi cuộc hôn nhân của Mị Châu và Trọng Thủy đều do vua cha hai bên quyết định. Mị Châu chỉ là một cô gái yếu đuối không tự quyết định được số phận của mình cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Rồi khi làm vợ Trọng Thủy, Mị Châu không thể nào ngờ rằng người chồng của mình lại là kẻ lòng lang dạ thú, âm mưu cướp nước của mình mình, làm khổ vua cha.

Mị Châu được xem lại tội danh thiên cổ của nước Âu Lạc khi chính nàng đã hai lần bán nước. Lần thứ nhất khi nàng dẫn Trọng Thủy vào nơi cất giấu chiếc nỏ thần, nói cho Trọng Thủy nghe về sự thần kỳ của chiếc nỏ. Lần thứ hai, chính là lúc nàng nghe lời Trọng Thủy mặc chiếc áo lông ngỗng khi hai nước giao tranh, khiến cho binh lính của nước xâm lăng tìm theo và giết cha nàng nhằm âm mưu “Diệt cỏ tận gốc”. Mị Châu đã hại chính cha ruột của mình bởi sự ngây ngô tới mức ngu ngốc của nàng.

Nên khi Trọng Thủy hỏi về bí mật quốc gia, Mị Châu vì quá yêu, nên đã mù quáng chỉ nghĩ tới tình cảm riêng tư mà cho Trọng Thủy xem bí mật của quốc gia đó chính là chiếc nỏ thần.Chính sự ngây thơ của Mị Châu tạo nên bi kịch của toàn lịch sử, nhưng nàng chỉ là một người con gái vừa đáng thương vừa đáng giận mà thôi.

Vì muốn chiều lòng chồng mà nàng đã lấy nỏ thần cho chồng mình xem, Mị Châu thật ngây thơ, khờ khạo trong tình yêu. Nàng không thể nào biết lường trước thủ đoạn khôn lường của người mà nàng luôn tin tưởng kia. Một âm mưu to lớn đằng sau con người lòng lang dạ thú mà nàng vẫn nghĩ đó là chồng mình. Người phụ nữ thời xưa chỉ biết nghe theo lời cha mẹ, rồi khi lớn lên lấy chồng thì nghe lời chồng cuộc sống của họ không có quyền quyết định nên việc Mị Châu nghe lời chồng là một đạo lý mà chính xã hội phong kiến dạy cho nàng.

Suy cho cùng những gì Mị Châu làm đều là một suy nghĩ của một nhi nữ thường tình, một người con gái đoan trang đức hạnh thường có, cả cuộc đời người phụ nữ thường phải phụ thuộc vào người đàn ông người chồng của họ. Mị Châu nào phải người học rộng hiểu nhiều, có tài binh lược để hiểu hết người chồng của mình.

Một nàng công chúa hiền lành trong sáng, nhưng những tội ác mà nàng làm cho vua cha bị mất nước rồi bị giặc đuổi theo giết hại sĩ không thể nào xóa nhòa trong lịch sử. Chính vì vậy, cuối cùng Mị Châu đã phải đền tội dưới lưỡi kiếm của cha mình. Bài học về nhân vật Mị Châu là một bài học vô cùng cay đắng xót xa cho người con gái thánh thiện nhưng quá khờ khạo và cả tin nên để mất giang sơn.

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 4

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 5

Từ bao đời nay, ông cha ta luôn có những cách giáo dục con người thông qua các bài học trong quá khứ. Thông qua các câu ca dao, tục ngữ, các mẩu chuyện ngụ ngôn,.. nhiều bài học đắt giá đã được đúc kết. Truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy là một trong những bài học về việc giữ nước và tinh thần cảnh giác. Trong truyện, có một nhân vật vừa đáng thương mà cũng đáng trách vô cùng, đó là Trọng Thủy – một nhân vật khiến chúng ta phải suy ngẫm.

Trọng Thủy là một trong ba nhân vật chính của chuyện như tên của tác phẩm, nhân vật này đóng vai phản diện tạo nên mâu thuẫn của chuyện. Thủy là con trai của Triệu Đà – một tên mưu mô xảo quyệt, luôn tìm cách xâm lược Âu Lạc. Thủy chính là một con cờ cho Triệu Đà lên kế hoạch tái xâm chiếm nước ta. Biết ý đồ xấu của cha, hắn không hề ngăn cản, hắn “ngoan ngoãn” nghe theo lời sắp đặt của cha, có thể thấy rằng Thủy là một người có tâm cơ không kém cha mình.

Trọng Thủy cùng cha đã có những kế hoạch riêng. Đầu tiên, hắn sang Âu Lạc cầu hòa, kết thân với Mị Châu, rồi tiến tới muốn cầu hôn nàng. Mị Châu là người con gái mới lớn, vô cùng hồn nhiên ngây thơ, trong sáng. Nàng đã rơi vào bẫy tình của Trọng Thủy. Được lòng Mị Châu và vua cha, hắn đã cưới nàng và ở rể tại Âu Lạc. Hắn luôn tìm cách kiếm được lòng tin của nàng, lừa nàng để biết được bí mật của vua cha. Hắn đã không mảy may do dự, nhân cơ hội đã đánh tráo chiếc nỏ thần, rồi lừa gạt Mị Châu trở về báo cho Triệu Đà, mang quân sang đánh, mưu sát An Dương Vương.

Trong mối quan hệ vợ chồng, Trọng Thủy đối xử tốt với Mị Châu tất cả là vì đã có âm mưu sẵn có, không hề từ trái tim, cho thấy hắn là một người chồng bạc tình, bạc nghĩa, đã lợi dụng tình yêu của nàng để vụ lợi cho mục đích riêng của mình. Nhưng rồi “ác giả, ác báo”, chính Trọng Thủy đã gặp phải bi kịch không lối thoát của mình. Sau thời gian sống chung với Mị Châu, Thủy nhận ra được tình cảm sâu đậm mà vợ đã dành cho mình, nàng luôn chung thủy, tin tưởng mình. Thủy cũng nhận ra mình rất yêu vợ, hắn hối hận với những việc mình đã làm, hắn đã phụ tình với người mình yêu. Và cái chết có thể là cách tốt nhất mà hắn muốn chuộc tội với nàng. Sau cùng, Trọng Thủy cũng chính là một quân cờ của cha mình, bị xoáy vào cuộc chiến của những kẻ tham lam.

Trọng Thủy đáng bị lên án về những hành động đã gây ra, một tên có thủ đoạn hèn hạ, lợi dụng sự ngây ngô cả tin của Mị Châu để đánh cắp nỏ thần rồi gây ra sự đau khổ lầm than của toàn một dân tộc Âu Lạc. Nhưng ta cũng có phần cảm thông vì xét cho cùng hắn cũng là một quân cờ trong tay cha mình, và nhân dân ta đã vô cùng bao dung khi tạo thêm chi tiết giếng ngọc. Qua nhân vật Trọng Thủy với những việc mà hắn đã làm, tác giả đã mang đến bài học cho thế hệ sau về sự cảnh giác cũng như kết quả của những kẻ làm việc sai trái sẽ phải trả giá đắt, sống trong tội lỗi, và đau đớn khôn nguôi.

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 4

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 3

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 4

Mị Châu là con gái của Thục Phán An Dương Vương, là một cô công chúa lá ngọc cành vàng, có tâm hồn ngây thơ, trong sáng, nhẹ dạ cả tin và không có chút gì về ý thức công dân. Xuất hiện ở phần sau của truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy, nàng cũng là người phải chịu trách nhiệm rất lớn về bi kịch “nước mất nhà tan”.

Mị Châu sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh An Dương Vương “xây thành chế nỏ” và đánh bại quân xâm lược Triệu Đà lần thứ nhất. Có thể nói, nàng sống trong cuộc kháng chiến chống xâm lược mà cha nàng là thủ lĩnh tối cao, nhưng qua truyền thuyết, chúng ta thấy Mị Châu hoàn toàn ngây thơ, không quan tâm và không có chút hiểu biết gì về việc bảo vệ đất nước. Điều đó thể hiện qua việc Mị Châu lén lấy trộm nỏ thần cho Trọng Thủy xem. Hành động đó vừa đáng thương, vừa đáng trách. Đáng thương vì Mị Châu đã làm theo đạo tam tòng nhưng đáng trách vì trong hoàn cảnh đất nước có giặc giã, một nàng công chúa con vua mà chỉ biết làm trọn chữ “tòng” mà không quan tâm đến vận mệnh đất nước, nhân dân là có tội. Mị Châu tin yêu chồng thì không có gì đáng trách nhưng nàng đã vi phạm nguyên tắc “bí mật quốc gia” của một công dân, tất yếu sẽ bị lên án, phê phán.

Mị Châu đã đặt tình riêng cao hơn nghĩa nước, một hành động không nghĩ đến bổn phận của cá nhân đối với Tổ Quốc, càng không nhận thức được quyền lợi của quốc gia tác động đến cá nhân. Nếu sự mất cảnh giác của An Dương Vương là nguyên nhân gián tiếp thì sự nhẹ dạ, cả tin, ngây thơ của Mị Châu lại chính là nguyên nhân trực tiếp gây ra họa mất nước. Mị Châu tin yêu chồng bằng một tình yêu mù quáng. Nhân dân ta đã sáng tạo ra hình ảnh áo lông ngỗng là một chi tiết nghệ thuật tài tình để thể hiện rõ sự mù quáng, đáng trách đó. Trọng Thủy đánh tráo nỏ thần, trước khi về nước đã hỏi Mị Châu: “Tình vợ chồng không thể lãng quên, nghĩa mẹ cha không hề dứt bỏ. Ta nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hòa, Bắc Nam cách biệt, ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu”.

Mị Châu đáp: “Thiếp có áo gấm lông ngỗng thường mặc trên mình, đi đến đâu sẽ dứt lông mà rắc ở ngã ba đường để làm dấu, như vậy sẽ có thể cứu được nhau”. Trọng Thủy vừa về nước, chiến tranh hai nước đã xảy ra. Lẫy nỏ không còn, phải lên ngựa bỏ chạy cùng vua cha, lẽ ra phải sớm tình ngộ đó là âm mưu của Trọng Thủy, vậy mà Mị Châu vẫn nhẹ dạ mù quáng, không suy xét sự tình mà vẫn rắc lông ngỗng để làm dấu, khác nào chỉ đường cho giặc tìm đến bắt mình. Việc làm đó trực tiếp dẫn tới bi kịch mất nước nhà tan. Nhờ lời nhắc nhở của thần Kim Quy, nàng mới nhận ra bản chất giả dối của Trọng Thủy và dứt khoát từ bỏ, vĩnh biệt Trọng Thủy trong cuộc đời cũng như trong tâm khản của mình.

Trước khi chết, Mị Châu đã nói: “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng chung hiếu mà bị người dối lừa, chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Nàng chỉ muốn rửa tiếng “bất trung”, “bất hiếu”, chỉ muốn cho mọi người hiểu rằng mình bị lừa dối chứ không dám kêu oán, cũng như xin tha tội. Tuy vậy, nhân dân ta không đánh giá nàng theo quan điểm đạo đức phong kiến thông thường mà đứng trên quan điểm của quốc gia, dân tộc để kết tội nàng. Với những lỗi lầm không thể tha thứ của một công dân đối với đất nước, nhân dân ta đã không những để cho Rùa Vàng kết tội đanh thép, không khoan nhượng, gọi nàng là “giặc” mà còn để cho Mị Châu phải chết dưới lưỡi kiếm nghiêm khắc của vua cha. Bi kịch của Mị Châu đã trở thành bài học về lợi ích giữa cái riêng và cái chung, và cho những người con trai, con gái sau này về bản chất nhẹ dạ cả tin. Dù là ai thì cũng cần phải có ý thức về sự tồn vong của đất nước.

Song thái độ, cách đánh giá của nhân dân vừa thấu tình lại vừa đạt lí. Mị Châu có tội nhưng những tội lỗi mà nàng gây ra là do nàng quá nhẹ dạ, yêu chồng nên bị lừa dối. Hơn nữa, nàng cũng tình ngộ và phải chịu cái chết đau đớn. Tuy nhiên, tác giả dân gian lại không muốn kết thúc số phận Mị Châu bằng cái kết thê thảm ấy. Nàng đã được hóa thân thành một hình hài khác: “Mị Châu chết ở bờ biển, máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu”, “Xác nàng đem về táng ở Loa Thành, xác biến thành ngọc thạch.

Đây là một thủ pháp nghệ thuật quen thuộc mang tính truyền thống của truyện kể dân gian: sử dụng hình thức hóa thân để kéo dài sự sống cho nhân vật. Nhưng ở nhiều truyện, nhân vật chỉ hóa thân trong một hình hài thì Mị Châu lại không hóa thân trọn vẹn. Hình thức hóa thân, phân thân độc đáo này thể hiện sự cảm thông, bao dung của nhân dân với sự trong trắng của Mị Châu, vừa thể hiện thái độ nghiêm khắc cùng bài học lịch sử. Câu chuyện về Mị Châu là bài học đáng giá đến muôn đời. Tố Hữu đã viết:

“Tôi kể người nghe chuyện Mị Châu

Trái tim lầm chỗ đặt trên đầu

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 2

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 3

Truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy là một tác phẩm vô cùng tiêu biểu, để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc. Nhắc đến tác phẩm này, không ai là không nhớ tới nàng Mị Châu xinh đẹp, nết na, nhưng vì tình yêu với chồng, vì sự nhẹ dạ cả tin nên đã trở thành tội nhân thiên cổ và chết trong đau đớn.

Mị Châu là con gái của An Dương Vương Thục Phán, là một cô công chúa lá ngọc, cành vàng, có tâm hồn ngây thơ trong trắng, nhẹ dạ, cả tin và không có một chú gì về ý thức công dân. Xuất hiện ở phần sau của tác phẩm, Mị Châu cũng là người phải chịu trách nhiệm lớn trước bi kịch “nước mất nhà tan”. Đó là một nàng công chúa xinh đẹp, ngây thơ và trong trắng, không một chút ý thức gì về trách nhiệm công dân, ý thức chính trị, chỉ biết đắm mình trong tình yêu, tình cảm vợ chồng.

Mị Châu ngây thơ, cả tin đến mức: tự tiện sử dụng bí mật quốc gia cho tình riêng, khiến bảo vật giữ nước bị đánh tráo mà hoàn toàn không biết ; Lại chỉ nghĩ đến hạnh phúc cá nhân khi đánh dấu đường cho Trọng Thuỷ đuổi theo. Khi đánh giá về nhân vật này, đã xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau, người lên án, kẻ bênh vực. Bị kết tội là giặc ngồi sau lưng ngựa, là đúng và đích đáng, mà người ra tay chính là cha đẻ của nàng. Mị Châu tội lỗi thật nặng nề, thật đáng bị trừng trị nghiêm khắc. Nàng phải trả giá cho những hành động cả tin, ngây thơ, khờ khạo của mình bằng tình yêu tan vỡ, bằng cái chết của chính mình.

Mặc dù là nàng công chúa gây ra hậu quả mất nước, nhưng với Mị Châu, nhân dân thật công bằng, bao dung, độ lượng và nhân hậu khi thờ An Dương Vương trong đền Thượng, mà thờ công chúa Mị Châu trong am bà Chúa, (trong đó thờ bức tượng không đầu). Nhưng công bằng mà nói, Mị Châu cũng thật đáng thương, đáng cảm thông, do tất cả những sai lầm, tội lỗi đó đều xuất phát từ sự vô tình, từ tính ngây thơ nhẹ dạ, cả tin đến mức mù quáng của nàng. Nàng chỉ hành động theo tình cảm, chứ chẳng hề đắn đo suy xét, chỉ biết việc riêng, chẳng lo việc chung. Tố Hữu đã viết về nàng một cách công bằng và nghiêm khắc trong bài Tâm Sự:

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu

Trái tim lầm chỗ để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu…

Chi tiết Mị Châu cho Trọng Thuỷ xem nỏ thần chứng tỏ Mị Châu nặng về tình cảm vợ chồng mà bỏ quên nghĩa vụ, trách nhiệm với Tổ quốc. Có thể khẳng định Mị Châu đã vi phạm vào nguyên tắc của bề tôi đối với vua cha. Nàng đã tiết lộ bí mật quốc gia. Đành rằng tình cảm vợ chồng tuy gắn bó cũng không thể vượt lên trên tình cảm đất nước. Nước mất dẫn đến nhà tan, không ai có thể bảo toàn hạnh phúc. Lông ngỗng có thể rắc cùng đường nhưng Trọng Thuỷ cũng không thể cứu được Mị Châu. Chúng ta cần xuất phát từ cơ sở phương pháp luận và ý thức xã hội, chính trị-thẩm mĩ của nhân dân trong đặc điểm thể loại Truyền thuyết để nhìn nhận về nhân vật Mị Châu.

Thể loại này nhằm đè cao cái tốt đẹp, phê phán cái xấu, cái ác, theo quan niệm nhân dân. Truyền thuyết đề cao lòng yêu nước, ý chí vì độc lập – tự do, không thể ca ngợi nàng công chúa con vị vua anh hùng, khổ công xây dựng thành giữ nước lại chỉ biết nghe lời chồng, không nghĩ đến bổn phận công dân với vận mệnh Tổ quốc. Nhìn ngược lại lịch sử để rút ra kinh nghiệm, giáo dục tình yêu nước, đề cao ý thức công dân, đặt việc nước cao hơn việc nhà. Chính vì vậy, nhân dân ta không đánh giá nàng theo quan điểm đạo đức phong kiến thông thường mà đứng trên quan điểm của quốc gia, dân tộc để kết tội nàng.Với những lỗi lầm không thể tha thứ của một người dân đối với đất nước, nhân dân ta không những đã để cho Rùa Vàng (đại diện cho công lí của nhân dân) kết tội đanh thép, không khoan nhượng gọi nàng là giặc mà còn để cho Mị Châu phải chết dưới lưỡi kiếm nghiêm khắc của vua cha.

Nàng Mị Châu trước khi chết cũng nhận ra tội lỗi của lớn của mình và không hề chối tội. Nàng chỉ muốn thanh minh “Nếu có lòng phản nghịch, mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Nàng chỉ mong rửa tiếng “bất trung, bất hiếu”, chỉ muốn mọi người hiểu rằng mình “một lòng trung hiếu mà bị lừa dối” chứ không kêu oan, cũng không xin tha tội. Công chúa Mi Châu được người Âu Lạc xưa và người Việt Nam đời đời thương xót vì đã biết tội, dám nhận tội và cam lòng chịu tội. Nếu lấy đạo “tam tòng” để thanh minh cho Mị Châu, rằng nàng chỉ là phận gái, rằng nàng làm vợ chỉ cần phục tùng chồng là đủ thì chính là đã hạ thấp bản lĩnh và tư cách của nàng công chúa nước Âu Lạc này.

Hình ảnh ngọc trai – ngọc minh châu  là hoá thân của nàng. Mị Châu đã phải chịu thi hành bản án của lịch sử xuất phát từ truyền thống yêu nước, tha thiết với độc lập tự do của người Việt cổ. Tuy nhiên số phận Mị Châu chưa dừng lại ở đó. Nhưng nàng không hoá thân trọn vẹn trong một hình hài duy nhất. Nàng hoá thân- phân thân: máu chảy xuống biển, trai ăn phải hoá thành ngọc trai. Xác nàng hoá thành ngọc thạch. Hình ảnh đó vừa thể hiện sự bao dung, thông cảm với sự trong trắng ngây thơ, vô tình khi phạm tội vừa thể hiện thái độ nghiêm khắc cùng bài học lịch sử về giải quyết quan hệ giữa nhà với nước, chung với riêng.

Bài học về nhân vật Mị Châu là một bài học vô cùng cay đắng xót xa cho người con gái thánh thiện nhưng quá khờ khạo và cả tin. Đó cũng là bài học về sự cảnh giác và đặt niềm tin đúng chỗ cho biết bao thế hệ người Việt Nam chúng ta.

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 1

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 2

Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy nêu bài học cảnh giác đầu tiên của lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc ta. Phần đầu truyện phản ánh vai trò của An Dương Vương trong việc xây dựng và bảo vệ nước Âu Lạc; phần sau là bi kịch nước mất nhà tan do sự mất cảnh giác của cha con An Dương Vương.

Nhưng họ đã quên rằng, trong một đất nước nhiều giặc giã, một nàng công chúa lại chỉ biết làm trọn chữ “tòng” mà vô tình với vận mệnh quốc gia là có tội. Mị Châu tin yêu chồng không có gì đáng trách nhưng nàng đã vi phạm nguyên tắc “bí mật quốc gia” của một người dân đối với đất nước, đặt tình riêng lên trên việc nước dù đó chỉ là do sự nhẹ dạ, vô tình. Nếu sự mất cảnh giác của ADV là nguyên nhân gián tiếp thì sự nhẹ dạ, ngây thơ của Mị Châu là nguyên nhân trực tiếp gây lên hoạ nước mất. Mị Châu tin yêu chồng bằng một tình yêu mù quáng. Nhân dân ta đã sáng tạo nên hình ảnh áo lông ngỗng là chi tiết nghệ thuật tài tình để thể hiện sáng rõ sự mù quáng đáng trách của Mị Châu.

Trọng Thuỷ đánh tráo nỏ thần, trước khi về nước đã hỏi Mị Châu: “Ta nay trở về thăm cha … làm giấu.” Mị Châu đáp: “Thiếp có … làm dấu”. Trọng Thuỷ vừa về nước, chiến tranh hai nước xảy ra, lẫy nỏ không còn, phải lên ngựa bỏ chạy cùng vua cha, lẽ ra phải biết đó là âm mưu của Trọng Thuỷ, thế mà Mị Châu vẫn nhẹ dạ, mù quáng, không suy xét sự tình, vẫn rắc lông ngỗng làm dấu, có khác gì chỉ đường cho giặc đuổi theo mình. Việc làm đó của nàng đã trực tiếp dẫn tới bi kịch nhà tan.

Vì vậy, không thể cho rằng làm một người vợ thì Mị Châu phải tuyệt đối nghe và làm theo lời chồng. Không thể cho rằng nàng là người vô tội, không phải chịu bất cứ trách nhiệm gì trước bi kịch nước mất nhà tan. Tội lỗi của nàng là hết sức nặng nề. Chính vì vậy, nhân dân ta không đánh giá nàng theo quan điểm đạo đức phong kiến thông thường mà đứng trên quan điểm của quốc gia, dân tộc để kết tội nàng. Với những lỗi lầm không thể tha thứ của một người dân đối với đất nước, nhân dân ta không những đã để cho Rùa Vàng (đại diện cho công lí của nhân dân) kết tội đanh thép, không khoan nhượng gọi nàng là giặc mà còn để cho Mị Châu phải chết dưới lưỡi kiếm nghiêm khắc của vua chúng tôi thái độ, cách đánh giá của nhân dân vừa thấu tình, vừa đạt lí. Mị Châu có tội nhưng những tội lỗi mà nàng gây ra không phải là chủ ý của nàng mà do nàng quá nhẹ dạ, yêu chồng bị lừa dối mà mắc tội. Hơn nữa, cuối cùng, nàng cũng đã tỉnh ngộ nhận ra kẻ thù và chấp nhận một cái chết đau đớn. Mị Châu có tội nàng đã phải đền nhưng nỗi oan của nàng cũng cần được giải. Sáng tạo nên chi tiết thần kì, ứng nghiệm với lời cầu khấn trước khi chết của Mị Châu, nhân dân ta đã bày tỏ thái độ bao dung, niềm cảm thông mà minh oan cho nàng. Đồng thời, thông qua chi tiết thần kì đó, ông cha ta cũng thể hiện thái độ nghiêm khắc của mình và truyền lại một bài học lịch sử muôn đời cho con cháu trong việc giải quyết mối quan hệ riêng – chung.Về Trọng Thủy: Trọng Thuỷ là một trong ba nhân vật chính của tác phẩm. Hắn là con trai của Triệu Đà, con dể của An Dương Vương, là chồng của Mị Châu công chúa. Sang Âu Lạc theo mưu kế nham hiểm của cha mình, Trọng Thuỷ lấy Mị Châu không phải vì tình yêu mà chỉ để lợi dụng nàng thực hiện một mưu đồ chính trị, để hoàn thành nhiệm vụ gián điệp được cha hắn giao phó mà thôi. Và với danh nghĩa một người chồng, Trọng Thuỷ đã hoàn thành xuất sắc vai trò gián điệp ấy. Hắn đã lợi dụng Mị Châu, lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tin, lừa gạt tình cảm của nàng để đánh cắp nỏ thần và nham hiểm hỏi Mị Châu một câu hỏi đầy dụng ý trước khi về nước với mục đích để biết cách tìm đường đuổi theo An Dương Vương nếu nhà vua chạy trốn. Chính những việc làm này của hắn là những nguyên nhân trực tiếp dẫn tới bi kịch nước mất nhà tan của cha con ADV và nhân dân Âu Lạc. Hắn chính là kẻ thù của nhân dân Âu Lạc, là một kẻ rất đáng bị vạch mặt, lên án, tội lỗi đời đời.Tuy nhiên, xét ở một góc độ khác, Trọng Thuỷ cũng chỉ là nạn nhân của một cuộc chiến tranh xâm lược. Trong tay của Triệu Đà, Trọng Thuỷ không hơn không kém cũng chỉ là một con bài chính trị mà thôi. Hơn nữa, mặc dù là một kẻ độc ác, Trọng Thuỷ cũng không phải hoàn toàn đã mất hết nhân tính của một con người. Chính lời nói của Trọng Thuỷ với Mị Châu trong lúc chia tay, hành động tự vẫn sau chuỗi ngày sống trong sự dày vò, ân hận của hắn đã nói lên điều đó.Trước lúc chia tay về nước dâng lẫy nỏ thần cho Triệu Đà, Trọng Thuỷ đã nói với Mị Châu: “Tình vợ chồng … làm dấu”. Đây không hoàn toàn là những lời dối trá, lạnh lùng mà nó ẩn chứa ít nhiều tình cảm bùi ngùi, một nỗi đau li biệt.Tính người của Trọng Thuỷ còn được thể hiện rõ hơn rất nhiều ở phần cuối cùng của tác phẩm khi tác giả dân gian miêu tả tâm trạng của Trọng Thuỷ sau cái chết của Mị Châu. Không đắm mình trong hào quang, danh vọng, trong hạnh phúc của sự thống trị uy quyền, sau khi Mị Châu chết, Trọng Thuỷ luôn sống trong nỗi niềm thương nhớ, trong nỗi ân hận dày vò và cuối cùng bế tắc, cùng đường hắn đã tự tìm cho mình cái chết. Trọng Thuỷ quyên sinh không phải chỉ là hành động sám hối cho một sai lầm mù quáng, mà còn là sự thức tỉnh của nhân tính, sự phủ nhận chiến tranh, sự từ chối mọi vinh quang quyền lực tìm về với cõi thiên thu để có được một tâm hồn thanh thản.

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 1

Tác giả dân gian đã dựng lên câu chuyện rất tài tình và đáng ngẫm nghĩ, mang lại bài học sâu sắc cho thế hệ sau về cách sống, cách yêu và cách nghĩ thông suốt, đúng đắn.

Đăng bởi: Nguyễn Chí Quận

Từ khoá: 10 Bài phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy trong “An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”

Test Độ “Quái Đản” Các Món Trong Máy Bán Hàng Tự Động Ở Nhật Bản (P.2)

Không chỉ phục vụ thức uống, đồ ăn, máy bán hàng tự động ở Nhật Bản còn bày bán những món hàng mà nếu đây là lần đầu tiên bạn đến với Nhật Bản hẳn sẽ phải đỏ mặt tía tai.

10. Tôm hùm sống

Chưa ở đâu việc ăn tôm hùm lại dễ dàng như ở Nhật vì đã có máy bán tôm hùm tự động phục vụ tận răng. Với khoảng 100 yên (khoảng 20 nghìn đồng), bạn sẽ được tự tay chọn một con tôm hùm còn sống bằng một thanh gắp như trò gắp thú bông, mà còn vừa có những khoảnh khắc vui nhộn bên chiếc máy bán hàng tự động tuyệt vời nhất quả đất. Giá đã rẻ lại còn không cần trả giá hay chen lấn, đây ắt hẳn là một trong số những chiếc máy tuyệt vời nhất trần ai!

11. Máy bán dù

Nếu ở nơi khác, đang đi ngoài ngoài đường mà trời chẳng may đổ mưa thì chỉ có nước khóc ròng mà tìm chỗ trú. Tuy nhiên, người dân Nhật Bản lại chẳng ngại gì mưa rơi vì đã có máy bán ô tự động ở khắp mọi nơi và bạn chỉ cần bỏ ra khoảng 450 yên (tức khoảng 80,000 đồng) là có ngay một chiếc ô che mưa để tiếp tục cuộc hành trình.

12. Máy bán xe hơi

Cả thế giới có lẽ phải ngã mũ bái phục sức sáng tạo của người Nhật khi biết rằng ở đây người dân không cần phải ra showroom hay thông qua nhân viên môi giới để mua được một chiếc ô tô. Tất cả những gì bạn cần là bỏ tiền vào máy bán hàng tự động, chọn mẫu xe mình mong muốn và chờ đợi trong vài nốt nhạc là có ngay chiếc xe sẵn sàng lăn bánh.

13. Máy bán đồ chơi mini

Có lẽ trẻ em ở Nhật Bản là những đứa trẻ may mắn nhất thế giới khi chúng chỉ cần bỏ tiền xu tiết kiệm vào máy bán hàng tự động là có ngay một lọ đồ chơi với vô số món bé xinh. Ngoài ra, mỗi lọ đồ chơi như vậy còn đi kèm một hũ nhỏ chứa quả anh đào ngâm rượu siêu hấp dẫn.

14. Máy bán bắp rang bơ

Những chiếc máy này có một chú rô bốt bên trong để đảm nhận nhiệm vụ rang bắp cho khách hàng. Tuy vậy, bắp rang bơ theo cách này vẫn thơm ngon và hấp dẫn như khi được làm bằng con người thật.

15. Máy bán búp bê manga

Còn gì tuyệt vời hơn khi được sở hữu một con búp bê mang hình dáng nhân vật từ bộ truyện manga mà mình yêu thích. Đến Nhật, ước mơ ấy của bạn sẽ trở thành sự thật khi bạn chỉ cần tìm đúng chiếc máy bán hàng tự động bán búp bê manga và bỏ tiền vào là xong.

16. Máy bán cà vạt

Sắp phải tham dự một cuộc họp quan trọng mà lại quên không mang cà vạt? Chuyện sẽ nhỏ như con thỏ nếu bạn may mắn sinh sống ở xứ sở hoa anh đào! Chỉ cần chạy ra phố tìm ngay chiếc máy bán cà vạt tự động và bỏ tiền vào là có ngay một cái vừa vẹn để bạn kịp chữa cháy trong mọi tình huống.

17. Máy bán đồ nướng

Để tiết kiệm thời gian, người dân Nhật Bản chẳng cần phải tổ chức một buổi dã ngoại ha đến những nhà hàng barbecue sang chảnh mới có thể thưởng thức các món nướng. Ở đây, họ chỉ cần bỏ tiền vào máy bán tự động trên phố là có ngay đủ loại thịt nướng thơm ngon để nhâm nhi.

18. Máy bán pin

Dường như ở Nhật mọi thứ đều có thể được tìm thấy ở các máy bán hàng tự động chứ không cần phải đi siêu thị nữa. Điển hình như chiếc máy bán đủ chủng loại pin này. Trong tình huống khẩn cấp cần một cục pin ngay, bạn chỉ cần tìm đến những chiếc máy đa năng có một không hai như thế.

19. Máy bán mì ra-men

Món mì ra men nổi tiếng của Nhật tưởng chừng chỉ được tìm thấy ở nhà hàng hay quán ăn lại cos thể dễ dàng mua được tại các máy bán tự động. Ngoài ra, người mua còn được quyền chọn hương vị và nước dùng tùy thích.

Đăng bởi: Lê Yến Nhi

Từ khoá: Test độ “quái đản” các món trong máy bán hàng tự động ở Nhật Bản (P.2)

Lịch Ngắm Hoa Anh Đào Nhật Bản

Sakura hay mùa hoa anh đào là một trong những thời điểm phổ biến nhất trong năm ở Nhật Bản. Giống như ở nhiều quốc gia, mùa hoa nở rộ đánh dấu sự xuất hiện của thời tiết ấm hơn và là mùa được rất nhiều người chào đón. chúng mình sẽ giới thiệu ​​về thời gian và địa điểm tốt nhất để ngắm hoa anh đào trên khắp Nhật Bản.

Mùa hoa anh đào là khi nào?

Thời điểm tốt nhất để ngắm sắc hồng tuyệt đẹp là vào khoảng giữa tháng 3 và tháng 5, tùy thuộc vào địa điểm và hoàn cảnh thời tiết. Thường thì thời kỳ nở hoa chỉ kéo dài trong hai tuần. Thông thường hoa bắt đầu nở từ nam lên bắc, các vùng Kanto, Kansai và Kyushu là bắt đầu sớm nhất và vùng Tohoku và Hokkaido là muộn nhất. Cũng có nhiều loại sakura khác nhau nở sớm hơn, chẳng hạn như kawazu sakura ở Shizuoka bắt đầu nở vào cuối tháng Hai.

Tình hình dịch bệnh đang dần được kiểm soát, nếu bạn muốn ngắm hoa vào năm 2023, hãy đảm bảo bạn biết chính xác ngày để không bỏ lỡ trải nghiệm tuyệt vời như vậy. Nhưng liệu bạn có biết hoa anh đào sẽ nở ở đâu và vào lúc nào không?

Mỗi năm, vào đầu tháng Giêng, JMC (Tổng công ty Khí tượng Nhật Bản) sẽ đưa ra dự báo đầu tiên về những ngày hoa anh đào bắt đầu ra hoa và nở rộ. Sau đó nó sẽ được cập nhật liên tục. Dự báo thứ 8 của năm 2023 được công bố vào ngày 18 tháng 3. Khi có dự báo mới, chúng mình sẽ cập nhật cho bạn.

Dự báo hoa anh đào năm 2023 (CẬP NHẬT)

JMC đã ước tính ngày nở hoa và nở rộ của cây Anh đào Yoshino ở khoảng 1.000 địa điểm ngắm hoa anh đào trên khắp Nhật Bản từ Hokkaido đến Kagoshima.

Địa điểm Ngày ra hoa Ngày nở rộ Ngày nở trung bình

Tokyo  14/3 22/3 26/3

Kyoto  16/3 25/3 28/3

Osaka 19/3 27/3 28/3

Kagoshima  17/3 4/4 26/3

Aomori 18/4 23/4 24/4

Hokkaido 30/4 3/5 3/5

Tại sao sakura lại đặc biệt ở Nhật Bản?

Ở Nhật Bản, ngắm hoa anh đào là vô cùng phổ biến; mỗi năm có hàng triệu người đến để ngắm những cây anh đào nở rộ với đủ màu sắc của nó. Đối với người Nhật, hoa anh đào tượng trưng cho mùa xuân, hy vọng, vẻ đẹp và cuộc sống mới và những bông hoa anh đào xinh đẹp đã biến nó thành nghệ thuật và thơ ca, đồ ăn thức uống. Đặc biệt, người Nhật xem hoa anh đào ngắn (nhiều hoa chỉ nở trong một hoặc hai tuần) là biểu tượng của sự vô thường và ngắn ngủi của cuộc sống. Nó cũng đánh dấu sự bắt đầu của năm học và năm kinh doanh, cả hai đều bắt đầu vào tháng Tư, vì vậy mùa xuân là một mùa đầy ắp các cuộc họp, hoạt động và sự sống động mới. Bên cạnh những ý nghĩa sâu sắc hơn của sakura, những cây anh đào nở rộ chỉ đơn giản là một cảnh tượng đáng để chiêm ngưỡng!

Hanami là gì?

Nếu bạn quyết định thưởng thức hanami ở Nhật Bản, chỉ cần nhớ không chạm / kéo / hái hoa anh đào và xả rác bừa bãi.

Nguồn: Japanwondertravel

Đăng bởi: Huế Nguyễn

Từ khoá: Lịch ngắm hoa anh đào Nhật Bản

Văn Mẫu Lớp 12: Dàn Ý Phân Tích Nhân Vật Mị Trong Vợ Chồng A Phủ (9 Mẫu) Dàn Ý Vợ Chồng A Phủ Nhân Vật Mị

Sơ đồ tư duy nhân vật Mị  Dàn ý Vợ chồng A Phủ nhân vật Mị – Mẫu 1

I. Mở bài

Tô Hoài là nhà văn nhạy cảm với cảnh sinh hoạt, phong tục tập quán của những vùng miền, ông có vốn ngôn ngữ phong phú, lối trần thuật tự nhiên.

Vợ chồng A Phủ là một truyện ngắn tiếu biểu cho phong cách của Tô Hoài, truyện viết về những con người Tây Bắc tiềm tàng sức sống đã vùng lên đấu tranh chống lại bọn thống trị.

Nhân vật Mị là biểu tượng đẹp cho sức sống tiềm tàng của người phụ nữ bị áp bức.

II. Thân bài

1. Mị vốn là cô gái có những phẩm chất tốt đẹp

– Trước khi về làm dâu nhà thống lí Pá Tra:

Mị là cô gái người Mông trẻ trung, hồn nhiên, có tài thổi sáo “thổi lá cung hay như thổi sáo có biết bao nhiêu người mê”

Mị đã từng yêu, từng được yêu, luôn khao khát đi theo tiếng gọi của tình yêu.

Hiếu thảo, chăm chỉ, ý thức được giá trị cuộc sống tự do nên sẵn sàng làm nương ngô trả nợ thay cho bố.

2. Nạn nhân của những áp bức bất công

Khi về làm dâu nhà thống lí Pá Tra: bị “cúng trình ma” nhà thống lí, làm con dâu gạt nợ, bị bóc lột sức lao động, “không bằng con trâu con ngựa”, “đàn bà trong cái nhà này chỉ biết vùi đầu vào công việc” , bị đày đọa nơi địa ngục trần gian, bị đánh, bị phạt, bị trói, …

Mị dần trở nên chai sạn với nỗi đau: một cô gái lúc nào cũng vậy dù quay sợi, thái cỏ ngựa, … đều cúi mặt “mặt buồn rười rượi”, không quan tâm đến thời gian “lỗ vuông bằng bàn tay …không biết là sương hay nắng”.

Mị sống lầm li “như con rùa nuôi trong xó cửa”, “ở lâu trong cái khỏ Mị quen rồi”.

3. Sức sống tiềm tàng trong nhân vật Mị

– Khi bị rơi vào cảnh làm con dâu gạt nợ Mị có ý định tự tử bằng lá ngón, không chấp nhận cuộc sống mất tự do.

– Trong đêm hội mùa xuân ở Hồng Ngài, sức sống của Mị đã trỗi dậy:

Âm thanh cuộc sống bên ngoài (tiếng trẻ con chơi quay, tiếng sáo gọi bạn tình, ..) ùa vào tâm trí, đánh thức những kỉ niệm trong quá khứ của Mị.

Mị lẩm nhẩm lời bài hát, trong khoảnh khắc tâm hồn trở về với thanh xuân tươi đẹp, khao khát tình yêu hạnh phúc.

Mị ý thức được sự tồn tại của bản thân “thấy phơi phới trở lại”, “Mị còn trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi”, với khát khao tự do

Tinh thần phản kháng mạnh mẽ: lấy miếng mỡ để thắp sáng lên căn phòng tối, nổi loạn muốn “đi chơi tết” chấm dứt sự tù đày.

Khi A Sử trói, lòng Mị vẫn lửng lơ theo tiếng sáo, tiếng hát của tình yêu đến những đám chơi. Lúc vùng dậy cô chợt tỉnh trở về với hiện thực.

– Nhận xét: Mị luôn tiềm tàng sức sống mãnh liệt, sức sống ấy luôn âm ỉ trong lòng người con gái Tây Bắc và chỉ chờ có cơ hội để bùng lên mạnh mẽ.

– Khi A Phủ làm mất bò, bị phạt trói đứng:

Ban đầu Mị dửng dưng bởi sau đêm tình mùa xuân, cô trở lại là cái xác không hồn.

Khi thấy giọt nước mắt của A Phủ khiến Mị đồng cảm, chợt nhớ đến hoàn cảnh của mình trong quá khứ, Mị lại biết thương mình và thương cho kiếp người bị đày đọa “có lẽ ngày mai người kia sẽ chết, chết đau, … phải chết”.

Bất bình trước tội ác của bọn thống lí, Mị cắt dây đay cởi trói cho A Phủ

Mị sợ cái chết, sợ nỗi khổ sẽ phải gánh chịu trong nhà thống lí, cô chạy theo A Phủ tìm lối thoát vượt ra khỏi địa ngục trần gian.

– Nhận xét: Mị là người con gái lặng lẽ mà mạnh mẽ, tiềm tàng sức sống, hành động của Mị đã đạp đổ cường quyền, thần quyền của bè lũ thống trị miền núi.

III. Kết bài

Nêu suy nghĩ về hình tượng nhân vật Mị.

Nghệ thuật: ngôn ngữ, cách nói đậm chất miền núi, lối trần thuật linh hoạt với sự dịch chuyển điểm nhìn trần thuật, miêu tả thành công tâm lí nhân vật và hình ảnh thiên nhiên.

Tác phẩm chứa đựng giá trị nhân đạo sâu sắc: sự cảm thông với số phận đau khổ của những con người chịu áp bức, tố cáo lên án bọn thống trị miền núi, bọn thực dân, ngợi ca vẻ đẹp, sức sống tiềm tàng trong mỗi con người Tây Bắc.

Dàn ý Vợ chồng A Phủ nhân vật Mị – Mẫu 2

I. Mở bài

Hoàn cảnh sáng tác

Nội dung chính của tác phẩm (nhấn mạnh đến nhân vật Mị, một nhân vật được xây dựng thành công nổi bật của cả tập truyện Tây Bắc)

II. Thân bài

1. Nhân vật Mị trước khi về làm dâu

Mị là một cô gái dân tộc Mèo, xinh đẹp và tài giỏi, có đời sống nội tâm và khát vọng tự do, có tài thổi sáo “thổi lá cũng hay như thổi sáo có biết bao nhiêu người mê”

Là con người hiếu thảo, chăm chỉ. Mị đã từng yêu, từng được yêu, luôn khao khát đi theo tiếng gọi của tình yêu

Vì hoàn cảnh gia đình quá nghèo nên cô dã phải làm dâu gạt nợ cho nhà Thống lí Pá tra.

2. Cuộc sống của Mị khi ở nhà Thống lí Pá Tra

– Để cứu nạn cho cha, cô đã phải làm dâu để gạt nợ, với danh nghĩa là con dâu, nhưng thực chất là tôi tớ. Khi về làm dâu nhà thống lí Pá Tra Mị bị “cúng trình ma” nhà thống lí, bị bóc lột sức lao động, “không bằng con trâu con ngựa”, “đàn bà con gái trong cái nhà này chỉ biết vùi đầu vào công việc”, bị đày đọa, bị đánh, bị phạt, bị trói …

– Không chỉ bị hành hạ về thể xác, Mị còn bị đầu độc bởi chế độ thần quyền, dưới chế độ quan lại miền núi trước cách mạng, sức mạnh thần quyền thật đáng sợ, nó trói buộc con người ta trong vô thức làm cho họ trở nên tê liệt về ý thức và không biết phản kháng.

– Sự hành hạ về thể xác, đầu độc bởi chế độ thần quyền khiến cho Mị bị rơi vào tình trạng mê muội thê thảm, Mị đã sống trong một môi trường cô đơn không tình người tăm tối, ngột ngạt, căn buồng của Mị ở chính là địa ngục trần gian. Mị dần trở nên chai sạn với nỗi đau, một cô gái lúc nào cũng vậy dù quay sợi, thái cỏ ngựa, … đều cúi mặt “mặt buồn rười rượi”, không quan tâm đến thời gian “lỗ vuông bằng bàn tay …không biết là sương hay nắng”.

– Mị sống lầm lũi “như con rùa nuôi trong xó cửa”, “ở lâu trong cái khổ Mị quen rồi”

3. Sức sống tiềm tàng của Mị

– Bị đày đọa, bị bóc lột, nhưng trong Mị vẫn có một sức sống tiềm tàng mãnh liệt. Trong đêm hội mùa xuân ở Hồng Ngài, người đọc vẫn nhận ra một cô Mị đầy khát vọng, sức sống của Mị đã trỗi dậy.

– Cuộc sống bên ngoài với âm thanh (tiếng trẻ con chơi quay, tiếng sáo gọi bạn tình,…) tất cả đã ùa vào tâm trí Mị, đánh thức những kỉ niệm trong quá khứ của Mị. Mị lẩm nhẩm lời bài hát, Mị ý thức được sự tồn tại của bản thân “thấy phơi phới trở lại”, “Mị còn trẻ lắm, Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn được đi chơi”…

– Tinh thần phản kháng mạnh mẽ: lấy miếng mỡ để thắp sáng lên căn phòng tối, nổi loạn muốn “đi chơi tết” chấm dứt sự tù đày. Khi A Sử trói, lòng Mị vẫn lửng lơ theo tiếng sáo, tiếng hát của tình yêu đến những đám chơi. Lúc vùng dậy cô chợt tỉnh trở về với hiện thực.

4. Thoát khỏi cuộc đời khổ cực

– A Phủ vì làm mất bò nên đã bị phạt trói, ban đầu Mị dửng dưng, nhưng khi thấy giọt nước mắt của A Phủ đã khiến Mị đồng cảm, chợt nhớ đến hoàn cảnh của mình trong quá khứ. Mị lại biết thương mình và thương cho kiếp người bị đày đọa.

– Bất bình trước tội ác của cha con nhà Thống lí, Mị đã cắt dây đay cởi trói cho A Phủ. Mị sợ sau khi cắt dây cho A Phủ cô sẽ bị nhà Thống lí xử tội, Mị sợ cái chết, sợ cái khổ, cô chạy theo A Phủ tìm lối thoát để vượt ra khỏi địa ngục trần gian, và để giải thoát chính mình.

5. Nghệ thuật

Tác giả đã rất thành công trong việc xây dựng hình tượng nhân vật, đặc biệt là ở phương diện miêu tả tâm lí Mị và A Phủ

Tái hiện cuộc sống và vẻ đẹp thiên nhiên, phong tục tập quán của người dân miền núi Tây Bắc

Tác phẩm đã xây dựng được tình huống truyện đặc sắc. Tác phẩm đã phơi bày những sự tàn bạo, bất nhân của giai cấp thống trị miền núi. Ngoài ra, tác phẩm còn thể hiện được khát vọng sống, sống một cách đúng nghĩa, sống như một con người của những người lương thiện như Mị và A Phủ.

III. Kết bài

Với việc xây dựng hình tượng nhân vật Mị, Tô Hoài khắc họa rất rõ cuộc sống của những người dân nghèo miền núi trước khi có ánh sáng của Đảng, đồng thời lên án sự thống trị, chuyên quyền độc đoán của giai cấp thống trị thời bấy giờ.

Dàn ý phân tích nhân vật Mị – Mẫu 3

I. Mở bài

Giới thiệu về tác giả tác phẩm.

Dẫn dắt sơ lược các nhân vật Vợ chồng A Phủ

II. Thân bài

* Tổng quan về nhân vật Mị

– Ngoại hình, tư thế, công việc được miêu tả: “ cô gái ngồi quay sợi gai bên tầng đá trước cửa, cạnh tầu ngựa…” khuôn mặt của cô thì “ Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi,… mặt buồn rười rượi”. Đã gợi ra một thân phận nhân vật khiến người đọc tò mà về thân phận làm dâu của Mị trong gia đình nhà Thống lí.

– Nhà văn đặt nhân vật trong hoàn cảnh đối lập: Một bên là cô gái làm việc quần quật suốt ngày đêm với một bên là sự giàu có của nhà Thống lí

– Hoàn cảnh cuộc đời của Mị:

Mị bị bắt gạt nợ:

Trước khi bị bắt về làm dâu nhà Thống lí Mị là một cô gái vô cùng xinh đẹp, tràn đầy nhựa sống…

Tưởng chừng một cô gái như vậy sẽ hạnh phúc trọn vẹn nhưng Mị lại bị món nợ truyền kiếp của cha mẹ và bị gạt nợ trở thành con dâu nhà Thống lí:

* Cuộc đời của Mị khi vào làm dâu để gạt nợ nhà thống lý

Đêm nào Mị cũng khóc, Mị định ăn lá ngón tự tử. Cho thấy sự ấm ức, đau khổ, tủi nhục muốn giải thoát kiếp nô lệ.

Mị nghĩ thương cha nên đã vứt nắm lá ngón. Hành động đã chứng tỏ Mị buông xuôi, chấp nhận kiếp sống nô lệ.

Cuộc sống của Mị ở nhà Thống lí: Mị bị đày đọa về cả thể xác lẫn tinh thần, sống một kiếp người như trâu ngựa:

– Nỗi khổ thể xác:

Biện pháp so sánh: Mị là con trâu, con ngựa thậm chí không bằng con trâu con ngựa. Cho thấy cuộc sống của Mị còn khổ hơn kiếp vật.

Các cụm từ chỉ thời gian: Mấy năm nay, mấy năm qua, mỗi mùa,….. Cuộc sống của Mị triền miên trong công việc không có lúc nghỉ ngơi.

– Nỗi khổ tinh thần:

Được nhà văn miêu tả : Mị không nói gì, cả ngày chỉ “ lùi lũi như một con rùa nuôi trong xó cửa”.

Thời gian cắt nghĩa: Miêu tả Mị “ Ở lâu trong cái khổ , Mị quen cái khổ rồi” . Chính cuộc sống bị đày đọa, đã làm tê liệt tinh thần của Mị.

* Con người Mị luôn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt

– Bức tranh mùa xuân: cảnh ăn Tết diễn ra có cỏ tranh thì vàng ửng, váy hoa thì được phơi đầy trên những mỏm đá..

– Tác nhân làm thay đổi Mị đó là men rượu và tiếng sáo: Mị uống ừng ực từng bát, tiếng sáo… Tất cả đã thức dậy tâm hồn Mị bị kìm nén bấy lâu nay Mị nhớ lại tuổi trẻ, những tháng ngày hạnh phúc và Mị muốn nổi loạn

– Sức sống tiềm tàng trong Mị nổi dậy trong đêm tình mùa xuân: Mị nhớ lại quá khứ tốt đẹp, hạnh phúc mong muốn thoát khỏi kiếp tù đày. Mị khao khát được đi chơi “lấy ống mỡ xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa dầu”, Mị đã nhen nhóm hy vọng cho chính cuộc đời mình, rồi Mị “quấn lại tóc, với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách”… làm đẹp cho chính bản thân.

Bị A Sử trói vào cột nhà rồi hành hạ dã man nhưng Mị không cảm thấy đau về thể xác vì lòng Mị luôn hướng về tuổi xuân về quá khứ tươi đẹp.

III. Kết bài

Truyện ngắn là một trong những tác phẩm hay nhất của ông về người dân Tây bắc.

Nghệ thuật: Miêu tả tâm lí nhân vật đặc sắc, ngôn ngữ giản dị…

Dàn ý phân tích nhân vật Mị – Mẫu 4

I. Mở bài

Tô Hoài là một nhà văn tài ba, có vốn ngôn ngữ phong phú và lối trần thuật rất tự nhiên. Ông nhạy cảm với phong tục tập quán, cảnh sinh hoạt của các vùng miền trên cả nước.

Vợ chồng A Phủ là một truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn Tô Hoài viết về những con người vùng núi Tây Bắc, luôn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt và sẵn sàng đấu tranh chống lại ách thống trị tàn ác.

Mị là nhân vật biểu tượng cho những người phụ nữ bị áp bức luôn mong ước được sống, được tự do

II. Thân bài

Luận điểm 1: Mị vốn là một cô gái có những phẩm chất rất tốt đẹp

Trước khi về làm dâu của nhà thống lý Pá Tra, Mị là một người con gái dân tộc Mông hồn nhiên và trẻ trung. Cô có tài thổi sáo lá khiến bao nhiêu chàng trai mê đắm.

Mị đã từng yêu và được yêu, luôn khao khát theo tiếng gọi của tình yêu

Cô còn là một người con hiếu thảo, biết bố nợ nhà thống lý cô sẵn sàng làm năng ngô trả nợ thay bố. Mị chăm chỉ làm việc và ý thức cao giá trị của cuộc sống tự do.

Luận điểm 2: Nạn nhân của những áp bức bất công

Mị bị về làm dâu nhà thống lý Pá Tra để gạt nợ cho bố, bị bóc lột sức lao động, bị đánh đập, bị trói, bị phát, bị đày đọa nơi địa ngục trần gian.

Mị dần trở nên chai sạm với nỗi đau, lúc nào mặt cũng buồn rười rượi, dù là lúc thái cỏ ngựa, quay sợi đều cúi mặt, đôi mắt không sức sống, không quan tâm đến thời gian và không gian.

Cô cứ sống lầm lũi như một con rùa nuôi trong xó cửa, khổ mãi rồi cũng quen.

Luận điểm 3: Sức sống tiềm tàng trong nhân vật Mị

+ Khi mà biết mình bị bắt làm dâu nhà thống lí, Mị đã từng có ý định ăn lá ngón tự tử vì không chấp nhận được cuộc sống mất tự do.

Trong đêm hội mùa xuân ở Hồng Ngài, sức sống trong Mị đã trỗi dậy:

Âm thanh cuộc sống bên ngoài ùa vào tâm trí, đánh thức những kỷ niệm của Mị trong quá khứ

Mị lẩm nhẩm theo lời bài hát, bỗng trong khoảnh khắc ấy tâm hồn Mị được trở về với thanh xuân và khao khát về tình yêu, sự hạnh phúc.

Mị nhận ra bản thân mình vẫn còn trẻ, vẫn muốn được đi chơi, một khát khao tự do dần tràn trong Mị.

Tinh thần phản kháng mạnh mẽ của Mị khi lấy miếng mỡ thắp sáng căn phòng tối tăm, nổi lợn và muốn “đi chơi tết” để chấm dứt sự “tù đày”

Khi bị A Sử trói lại Mị vẫn ngân nga theo tiếng sáo, tiếng hát của tình yêu, nhưng rồi cô chợt tỉnh và trở về với hiện thực đau xót.

+ Khi gặp tình huống A Phủ bị bắt trói do làm mất bò

– Lúc đầu Mị dửng dưng với A Phủ vì sau khi thoát khỏi “giấc mơ” đêm tình mùa xuân thì cô lại trở về là một “cái xác không hồn”.

– Mị nhìn thấy giọt nước mắt của A Phủ, sự đồng cảm giữa 2 con người xuất hiện trong Mị. Cô liên tưởng đến bản thân mình trong quá khứ, thương mình và thương cho một kiếp người không có tiếng nói, luôn bị kẻ lớn ức hiếp đày đọa. Cô suy nghĩ “có lẽ ngày mai người kia sẽ chết, chết đau…phải chết”.

– Cô quyết định sẽ cởi trói cho A Phủ, để A Phủ được tự do và sẽ không phải chờ chết tại nơi địa ngục này.

– Sau khi cởi trói cho A Phủ, Mị sợ cái chết, sợ sẽ phải tiếp tục chịu khổ sở ở nhà thống lý Pá Tra, cô chạy theo A Phủ thoát khỏi nơi chôn vùi thanh xuân của mình.

III. Kết bài

Nêu suy nghĩ của mình về hình tượng nhân vật Mị

Khẳng định khả năng của Tô Hoài: văn phong đậm chất miền núi, ngôn ngữ trần thuật linh hoạt cùng khả năng miêu tả nội tâm nhân vật tài tình

Ý nghĩa nhân văn sâu sắc của tác phẩm: sự cảm thông số phận đau khổ của những người chịu áp bức, bóc lột. Lên án, tố cao bọn thống trị, thực dân đàn áp nhân dân. Ngợi ca sức sống và vẻ đẹp tiềm tàng trong mỗi người con Tây Bắc.

Dàn ý nhân vật Mị – Mẫu 5 I. Mở bài:

– Tô Hoài là nhà văn sống gắn bó và am tường văn hóa, phong tục của người Tây Bắc. Nhân vật trong tác phẩm của ông có sự chuyển biến tâm lí, tính cách rõ rệt mà Mị trong đêm tình mùa xuân là dẫn chứng tiêu biểu.

II. Thân bài:

– Nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân:

– Khái quát những nét cơ bản về cuộc đời Mị trước khi và trong khi làm con dâu gạt nợ: Mị là cô gái trẻ xinh đẹp, thổi sáo hay, hiếu thảo, siêng năng nhưng bị bắt làm con dâu gạt nợ cho nhà Thống Lí. Mị bị đày đọa tinh thần lẫn thể xác đến chẳng còn chút sinh khí của sự sống, đã bấy lâu Mị như một cái xác không hồn.

– Tâm trạng của Mị trong đêm tình mùa xuân:

+ Thời gian: mùa xuân – mùa tươi đẹp của Hồng Ngài. Trên núi, trên nương, ngoài sân…dấu hiệu của mùa xuân khắp mọi nơi. “Trẻ con đi hái bí đỏ, tinh nghịch đã đốt những lều canh nương để sưởi lửa”, “những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá”…Đặc biệt nhất là tiếng sáo – âm thanh của cuộc sống tự do đã đánh thức tâm hồn Mị “Mị ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thổi”

+ Nhân tố quan trọng: Rượu – rượu khiến Mị tìm lại chính mình của những ngày đã mất. Mị thấy mình còn trẻ, Mị tìm thấy niềm vui sau bao ngày đã mất. Hơi rượu khiến thính giác Mị nhạy hơn để Mị nghe tiếng sáo văng vẳng bên tai, Mị cũng uốn chiếc lá trên môi và thổi lá.

– Sự đối lập giữa thế giới đã mất và cuộc sống thực tại:Càng sống lại với tuổi trẻ đã mất và những ngày tháng tự do bao nhiêu thị Mị lại càng thấy tủi nhục cho cuộc sống hiện tại làm trâu ngựa cho nhà Thống Lí. Vì thế mà Mị nghĩ đến cái chết khi chẳng còn cách nào khác thoát khỏi sự bó buộc. Mị ước có nắm lá ngón để ăn chứ không buồn nhớ đến nữa vì “nhớ lại chỉ thấy nước mắt ứa ra”.

– Xuất phát từ ý thức trỗi dậy, Mị đã có những hành động quyết liệt: “Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng…Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở trong vách… Mị rút thêm cái áo”

– Ý định giải thoát bị ngăn cản, sức sống vừa trỗi dậy bị đạp đổ: A Sử phát hiện ra ý định của Mị nên hắn trói Mị vào cột nhà suốt đêm. “Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi”…Mị bị cầm tù thể xác nhưng tâm hồn đã thật sự tự do. Sự hồi sinh của Mị còn biểu hiện rõ ràng ở nỗi đau “Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa”.

– Ý thức về nỗi khổ của thân phận và nỗi sợ cái chết: Lúc Mị bàng hoàng tỉnh và vẫn bị trói đứng, Mị đã nghĩ về thân phận người đàn bà có chồng trong gia đình này, nghĩ đến câu chuyện có người vợ bị trói chết ngay trên chiếc cột. Mị sợ chết “Mị cựa quậy, xem mình còn sống hay chết” đó là dấu hiệu cho biết Mị còn ham sống.

III. Kết bài:

+ Mị là nhân vật đại diện cho người dân miền núi áp bức cả thể xác lẫn tinh thần, cuối cùng Mị cũng tìm ra được lối đi cho đời mình nhờ vào lòng ham sống, sức sống mãnh liệt.

Dàn ý phân tích Mị trong Vợ chồng A Phủ – Mẫu 6

I. Mở bài 

– Giới thiệu về tác giả: Nhà văn Tô Hoài là nhà văn nhạy cảm với cảnh sinh hoạt phong tục tập quán của vùng miền. Ông có lối viết văn phong phú, lối trần thuật tự nhiên nhưng rất sinh động.

– Giới thiệu tác phẩm vợ chồng a phủ và giới thiệu về nhân vật Mị

II. Thân bài 

– Luận điểm 1: Mị là cô gái có những phẩm chất tốt đẹp

Mị trẻ trung, hồn nhiên

Mị đã từng yêu, được yêu và khao khát đi theo tiếng gọi tình yêu

Mị Hiếu thảo chăm chỉ

– Luận điểm 2: Mị là nạn nhân của những áp bức tấn công

Mị làm con dâu gạt nợ nhà thống lí pá tra bị bóc lột sức lao động, không bằng trâu bằng ngựa.

Mị trở nên chai sạn với nỗi đau

Mị lầm lũi như con rùa trong xó cửa

– Luận điểm 3: Sức sống tiềm tàng trong nhân vật Mị

Mị đã có ý định tử tự vì không chấp nhận cuộc sống mất tự do

Trong đêm hội mùa xuân ở Hồng Ngài sức sống của Mị đã trỗi dậy, Mị bị đánh thức bởi kỉ niệm những âm thanh cuộc sống, bạn tình. Mị hát và khát khao trở về thời thanh xuân trước kia. Mị ý thức được sự tồn tại của bản thân, Mị thấy mình còn trẻ và muốn đi chơi…. Hàng loạt thay đổi tâm lý Mị trong đêm tình mùa xuân cho thấy khát vọng được sống hạnh phúc

Mị luôn tiềm tàng sức sống mãnh liệt và sức sống ấy âm ỉ cháy trong lòng, chỉ chờ cơ hội là trào ra.

Mị bỏ chạy khỏi nhà thống lý vì ham sống, muốn sống tự do

III. Kết bài

– Đánh giá lại nhân vật Mị

– Nêu cảm xúc của em

– Tác phẩm giàu giá trị nhân đạo sâu sắc, cảm thông với số phận đau khổ của những con người chịu áp bức.

Dàn ý Mị trong đêm cứu A Phủ – Mẫu 7

a) Mở bài:

– Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm

Tô Hoài là nhà văn nổi tiếng trên văn đàn từ trước năm 1945. Trong kháng chiến chống Pháp, ông chủ yếu hoạt động ở lĩnh vực báo chí, nhưng vẫn có một số thành quả quan trọng trong sáng tác văn học, nhất là về đề tài miền núi.

Truyện Vợ chồng A Phủ là kết quả của chuyến Tô Hoài đi cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc (1952), đánh dấu độ chín của phong cách nghệ thuật Tô Hoài. Tác phẩm viết về cuộc sống tăm tối và khát vọng sống mãnh liệt của người dân miền núi dưới ách thống trị của thực dân phong kiến.

– Giới thiệu chi tiết Mị cứu A Phủ: Mị là nhân vật chính, là linh hồn của tác phẩm. Chi tiết Mị cởi trói cứu A Phủ là chi tiết làm nên mọi giá trị của tác phẩm.

b) Thân bài:

* Khái quát tác phẩm

– Hoàn cảnh sáng tác: Tác phẩm là kết quả của chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc năm 1952 của Tô Hoài. Đây là chuyến đi thực tế dài 8 tháng sống với đồng bào các dân tộc thiểu số từ khu du kích trên núi cao đến những bản làng mới giải phóng của nhà văn.

– Giá trị nội dung : “Vợ chồng A Phủ” là câu chuyện về những người dân lao động vùng núi cao Tây Bắc không cam chịu bọn thực dân, chúa đất áp bức, đày đọa, giam hãm trong cuộc sống tối tăm đã vùng lên phản kháng đi tìm cuộc sống tự do.

– Giới thiệu sơ lược về nhân vật A Phủ:

A Phủ là một thanh niên có thân phận như Mị, cũng phải ở nhà thống lý Pá Tra để gạt nợ.

Do để mất bò mà bị trói đêm này sang đêm khác, ngày này sang ngày kia.

* Phân tích tâm trạng, hành động của Mị trong đêm cởi trói cho A Phủ

– Tâm trạng của Mị trước đêm cởi trói cho A Phủ:

Cuộc sống đoạ đày trong nhà thống lý Pá Tra của Mị vẫn tiếp diễn.

Thời gian đọa đày biến cô trở thành người câm lặng trước mọi sự. Những gì diễn ra chung quanh không khiến Mị quan tâm.

Những đêm đầu Mị thổi lửa hơ tay, tâm hồn Mị như tê dại trước mọi chuyện, kể cả lúc ra sưởi lửa, bị A Sử đánh ngã xuống bếp, hôm sau Mị vẫn thản nhiên ra sưởi lửa như đêm trước.

Song, trong lòng, không phải chuyện gì Mị cũng bình thản. Mị rất sợ những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn.

Khi trong nhà đã ngủ yên, Mị tìm đến bếp lửa. Đối với Mị, nếu không có bếp lửa ấy, cô sẽ chết héo.

– Thương người cùng cảnh ngộ:

Chính nhờ ngọn lửa, đêm ấy, Mị trông sang A Phủ và nhìn thấy một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống má đã xám đen lại. Dòng nước mắt ấy khiến Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải đứng trói thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không lau đi được.

Rồi Mị phảng phất nghĩ gần nghĩ xa: Cỡ chừng này thì chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì còn biết đợi ngày rũ xương ở đây mà thôi… Người kia việc gì phải chết thế?

– Tình thương lớn hơn cái chết:

Mị xót xa cho A Phủ như xót xa cho chính bản thân mình. Mị thương cho A Phủ không đáng phải chết.

Cô cũng sợ nếu mình cởi trói cho chàng trai ấy, bố con Pá Tra biết được sẽ trói thay vào đấy và lại phải chết trên cái cọc ấy… Song có lẽ tình thương ở Mị đã lớn hơn cả sự chết.

– Từ cứu người đến cứu mình:

Khi cởi trói cho A Phủ xong, Mị đứng lặng trong bóng tối. Song, chính ngay lúc ấy, trong lòng người đàn bà khốn khổ kia mọi chuyện diễn ra rất nhanh.

Mị cũng vụt chạy ra. Trời tối lắm nhưng Mị vẫn băng đi vì ở đây thì chết mất.

* Đặc sắc nghệ thuật

Tạo tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn

Nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm trạng nhân vật tài tình

Nghệ thuật xây dựng nhân vật sinh động, có cá tính

Ngôn ngữ sinh động, sáng tạo, giàu tính tạo hình

Nghệ thuật kể chuyện lôi cuốn, hấp dẫn

c) Kết bài:

Qua tâm trạng của Mị trong đêm cởi trói cho A Phủ, chúng ta thấy được cả sức sống tiềm tàng ở một người phụ nữ bị đọa đày vả về thể xác lẫn tinh thần, tưởng chừng như mất đi hết đời sống tâm hồn.

Khẳng định sự tài tình trong xây dựng nhân vật, miêu tả diễn biến tâm trạng của Tô Hoài.

Dàn ý Mị trong đêm tình mùa xuân – Mẫu 8

Advertisement

I. Mở bài:

Giới thiệu tác giả và tác phẩm

Giới thiệu sơ lược về Mị trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”. Tâm trạng của Mị trước đêm xuân.

II. Thân bài:

– Phân tích tâm trạng Mị trong đêm mùa xuân.

+ Trước đêm mùa xuân, do bị đày đọa, áp chế, Mị trở thành một người phụ nữ “vô hồn”, mất hết ý niệm về thời gian lẫn không gian. Kiếp sống của Mị lúc đó chẳng khác nào kiếp sống con trâu, con ngựa trong nhà thống lí Pá Tra. Nhưng có thể nói sức sống trong Mị chưa hoàn toàn lụi tắt.

+ Do sự tác động của bối cảnh bên ngoài đối với Mị trong đêm mùa xuân. Mùa xuân năm ấy ở Hồng Ngài đẹp và gợi cảm biết bao

– Mùa xuân đó đầy sắc màu, rộn rã âm thanh. Điều ấy xa lạ với không gian trong căn phòng bé nhỏ của Mị, nhưng gần gũi với thế giới mà Mị đã từng sống rất hạnh phúc. Chúng gợi cho Mị nhớ lại thời xa xưa. Ngày xưa, Tết Mị uống rượu. Bây giờ, Mị cũng uống rượu. Rồi Mị say.

– Rượu – chất men đánh thức phần đời đã mất của Mị. “Khi uống rượu say, Mị lại được sống về những ngày trước. Ngày trước Mị vui sướng biết bao. Tai Mị vẳng nghe tiếng sáo vọng lại đầu làng. Đấy là tiếng sáo của tình duyên, của tuổi thanh xuân căng đầy sức sống. Mị không còn là cô con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra nữa. Mị đang uống rượu bên bếp và thổi sáo rồi Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị. Ra thế, Mị còn trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ.”

– Sự đối lập giữa hoàn cảnh đêm xuân, giữa thế giới được đánh thức với cuộc sống thực tại: Khi say, Mị nhớ và sống lại với ngày xưa, nhưng thực ra, Mị vẫn đang ở nhà thống lý Pá Tra. Mị vẫn đang sống kiếp đọa đày với A Sử. Sự đối lập giữa một bên là hạnh phúc tuổi trẻ với một bên là kiếp sống trâu ngựa đã khiến Mị suy nghĩ đến việc kết liễu đời mình như ngày mới về làm dâu nhà thống lý. Mị lại ước gì có nắm lá ngón trong tay, Mị sẽ ăn cho chết ngay chứ không buồn nhớ lại nữa. Càng nhớ lại chỉ thấy nước mắt ứa ra. Ôi chao, tiếng sáo ấy, tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường. Mị đang muốn quên đi, Mị không muốn nhớ lại cái ngày trước mà không được. Tiếng sáo ấy lửng lơ, tiếng sáo ấy làm Mọi thiết tha bổi hổi. Mị muốn đi chơi. Mị muốn thoát ra ngoài cái ô cửa ô mờ đục, trăng trắng này!

– Nhưng Mị lại thực hiện một sự giải thoát bằng cách khác. Đó là bỏ nhà đi chơi như những người trẻ trung đang dập dìu ngoài làng. Mị đã ý định giải thoát một cách lặng lẽ mà mãnh liệt: Mị đến góc nhà, tay lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng…Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở trong vách… Mị rút thêm cái áo. Mị làm tất cả, thật bình thản và quyết liệt như ngày xưa, khi trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo.

– Ý định giải thoát của Mị không thành: Trông thấy Mị, A Sử lấy làm lạ. Nó chỉ biết rằng Mị muốn đi chơi. Thằng chồng ác hơn con hổ ấy không biết trước mặt mình đã là một cô Mị khác, cô Mị của ngày xưa mà hắn đã từng lừa lọc để đánh cắp đem về. Hắn thẳng tay vùi dập tàn nhẫn sự trở về đó: A Sử bước lại, nắm lấy Mị, lấy thắt lưng trói hai tay Mị. Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói Mị đứng vào cột nhà. Tóc Mị xoã xuống mặt, A Sử quấn luôn tóc lên cột làm cho Mị không cúi, không nghiêng đầu được nữa…

III. Kết bài:

Thành công của nhà văn Tô Hoài là đã khắc hoạ một nhân vật sống chủ yếu bằng tâm trạng, với tâm trạng. Cả đêm mùa xuân, Mị hành động được rất ít, nhưng người đọc vẫn thực sự hấp dẫn với một con người đang từ cõi âm u mơ hồ trỗi dậy. Không gian, thời gian, giọng kể của tác phẩm theo một tiết tấu của chính tâm trạng ấy. Hẳn Tô Hoài đã đặt cả tấm lòng của mình vào tâm trạng của Mị, để người đọc dõi theo tâm trạng ấy, khi tha thiết, khi nghẹn ngào xót xa.

Dàn ý Vợ chồng A Phủ nhân vật Mị – Mẫu 9

I. Mở bài

Giới thiệu về tác giả Tô Hoài: một trong số những nhà văn lớn, có khối lượng tác phẩm đồ sộ trong nền văn học Việt Nam hiện đại, có phong cách nghệ thuật độc đáo không lẫn với ai.

Giới thiệu về truyện ngắn Vợ chồng A Phủ: truyện viết về những con người Tây Bắc với sức sống tiềm tàng đã vùng lên đấu tranh chống lại bọn thống trị.

Khái quát nhân vật Mị: biểu tượng đẹp của người phụ nữ bị áp bức, sẵn sàng vùng lên kiếm tìm tự do.

II. Thân bài:

– Luận điểm 1: Mị là một cô gái người Mông xinh đẹp, tài năng và có một đời sống tâm hồn phong phú

– Luận điểm 2: Cuộc sống bi thảm của Mị khi trở thành con dâu nhà thống lý Pá Tra

Do cha Mị vay nhà thống lý Pá Trá một khoản tiền, số tiền lãi quá lớn Mị bị bắt làm vợ A Sử (con trai thống lý) để gạt nợ. Gia đình Mị cũng chính là nạn nhân của chế độ cho vay nặng lãi đã tồn tại qua bao đời nay.

Thể xác của Mị bị hành hạ: Trở thành cỗ máy làm việc không biết nghỉ, không biết mệt mà vẫn bị đánh đập tàn nhẫn.

Mị bị đầu độc, bị nhục mạ tinh thần khi người nhà thống lý dùng Mị để cúng trình ma, sống tù túng trong căn buồng kín mít không ánh sáng. Trông Mị không một chút sức sống, vô tâm vô hồn, thờ ơ và dửng dưng trước mọi chuyện.

– Luận điểm 3: Mị vẫn có một sức sống mãnh liệt, khao khát tự do.

+ Diễn biến tâm trạng của Mị trong đêm tình mùa xuân

Mị nghe tiếng sáo cùng những âm thanh tươi vui xung quanh

Cô lẩm nhẩm theo lời bài hát, rồi mang rượu ra uống để quên đi những nỗi tủi nhục mình đang gặp phải.

Tâm hồn Mị đã được hồi sinh, những ký ức của ngày xưa ùa về, đã từng một thời yêu và được yêu. Cô cũng ý thức được hiện thực của mình, lại thấy thật cay đắng và tủi nhục.

Mị còn trẻ, Mị muốn được đi chơi và nghĩ tới đó Mị sửa soạn lại bản thân rồi xin A Sử đi chơi xuân.

A Sử tức giận trói Mị suốt đêm tối, dù trói được thể xác Mị nhưng không thể trói được tâm hồn của Mị.

+ Mị cởi trói cho A Phủ

Lúc đầu khi Mị thấy A Phủ, cô rất dửng dưng, chẳng quan tâm tới A Phủ sống chết như thế nào.

Khi thấy A Phủ khóc, cô thương A Phủ cũng thương bản thân mình, thấy sao cả 2 khổ vậy, nhà thống lý ác thế.

Mị quyết định cởi trói cho A Phủ, rồi cả hai cùng nhau chạy trốn khỏi Hồng Ngài

III. Kết bài

Khái quát lại về nhân vật Mị

Khẳng định về tấm lòng nhân đạo và tài năng của tác giả Tô Hoài.

Lửng Chó Nhật Bản: Loài Động Vật Có Vú

Lửng chó Nhật Bản ( danh pháp hai phần : Nyctereutes viverrinus ), [1] còn được gọi là tanuki (狸 (Li) , tanuki ? ), là một loài thuộc họ Chó đặc hữu của Nhật Bản. Đây là một trong hai loài thuộc chi Nyctereutes , cùng với loài lửng chó (N. procyonoides), mà trước đây chúng được xem là một phân loài bên trong. [2]

Trong tiếng lóng của Nhật Bản, tanuki gao (“mặt của tanuki”), có thể cho thấy gương mặt giống y hệt thế kia của các con vật, hay một gương mặt biểu lộ sự giả vờ không quan tâm của con người. Kitsune gao (“mặt của cáo”) cho thấy gương mặt của một người phụ nữ mặt dài, mắt hí, lông mày mỏng và hai gò má hô hốc.

Khi viết tanuki dưới tiếng kanji, 狸 (kyujitai: 貉) được dùng để ám chỉ các động vật có vú cỡ vừa, thường là mèo hoang . Trong khi mèo hoang chỉ sống ở một số vùng nhất định ở Nhật Bản chẳng hạn như Iriomote, Okinawa), người ta tin rằng, con vật này trước kia có nghĩa là tanuki, đáng lẽ ra là đã bắt đầu trong thời Nhật Bản phong kiến. Khi giải thích mưu mẹo này, cùng với sự quý hiếm của gấu chó ngoài Nhật Bản, có thể đã góp phần vào việc gây ra sự lẫn lộn trong việc dịch chính xác từ “tanuki” ra thành một ngôn ngữ khác.

Tanuki nổi bật trong truyền thuyết và tục ngữ của Nhật Bản,không phải lúc nào chúng cũng ưu tú hơn tất cả các loài vật khác cả. Trong tiếng địa phương, tanuki và mujina (狢, kyujitai: 貉) có thể giống gấu chó hay con lửng . Một con vật được biết đến là tanuki trong một vùng miền nào đó có thể được biết đến là mujina ở một vùng miền khác. Trong tiêu chuẩn ngôn ngữ địa phương của Tokyo hiện đại, thì tanuki là một con gấu chó hay con lửng, cho dù cách đọc của con sau lại được ưa thích hơn.

Các bức tượng của Tanuki có thể tìm thấy rất nhiều ngoài cửa đền và nhà hàng, đặc biệt là các tiệm mì ở Nhật Bản. Các bức tượng này thường đội một chiếc mũ lớn, hình nón và thường cầm một chai rượu sake trên một tay, và một mẩu giấy hẹn ước hay một cái ví tiền rỗng trên tay còn lại. Các bức tượng Tanuki thường có bụng bự. Và lúc nào các bức tượng ấy cũng cho thấy những hòn dái khôi hài, đó là nét đặc trưng của chúng, và thường thõng xuống mặt đất hay sàn nhà, cho dù mấy thứ này lúc nào cũng bị bỏ quên trong nghệ thuật điêu khắc đương thời. Tanuki cùng với cái bìu dái được phóng lớn

 

Một bức tượng Tanuki

Hình ảnh vui nhộn của Tanuki đã được người ta nghĩ ra và đã khai triển vào thời Kamakura. Con Tanuki hoang dã thật thì lại có hòn dái lớn và không cân đối, một chi tiết đặc trưng để khơi dậy cảm hứng khôi hài và thổi phồng trong sự miêu tả của các họa sĩ. Con tanuki có thể cho người ta thấy hòn dái nằm lăng lóc trên lưng như cái ba lô của người hành khách, hay sử dụng chúng như trống. Tanuki có các nét đặc trưng để miêu tả như cái bụng lớn của mình, chúng có thể được miêu tả một cái trống trên bụng thay vì là hòn dái rất đặc biệt trong nghệ thuật đương thời.

Trong thời Kamakura và Muromachi, một số câu truyện bắt đầu có hình ảnh một tanuki gian tà nhiều hơn. Truyện Otogizoshi của Kachi-kachi Yama đã khắc họa hình ảnh một tanuki đã đánh chết một bà cụ đến chết và dâng bà ta lên một ông chồng mà bà ta không biết như một món súp bà cụ, một sự bóp méo mỉa mai trong một công thức truyền thống dân gian là súp tanuki. Một tin đồn khác cho rằng tanuki đã trở nên vô hại và đã sinh sản ra các thành viên của đoàn thể. Một vài ngôi đền có những câu truyện về các thầy tu đời trước, là do tanuki cải trang thành. Con tanuki thay đổi hình dạng đôi khi được cho rằng là một tsukumogami, một biến đổi của các linh hồn của các chủ nhà tốt bụng đã được sử dụng khoảng một trăm năm trước hay hơn nữa.

Một câu chuyển nổi tiếng, được biết đến là Bunbuku chagama, kể về một con tanuki lừa một thầy tu bằng cách thay đổi hình dạng thành một cái ấm trà. Một câu chuyện khác kể về một con tanuki lừa một người thợ săn bằng cách biến tay của ông ta thành một cành cây, rồi ông dang rộng hai tay ra đến khi rớt xuống cây. Người ta thường bảo tanuki là những tên lái buôn xảo quyệt khi chúng sử dụng phép thuật để biến lá cây thành tiền giấy. Một vài câu chuyện miêu tả tanuki là một con vật sử dụng lá cây như một phần trong quá trình biến hình của chúng.

Tanuki có tám nét đặc biệt, mà mang những điều tốt lành, có thể tạo ra để hợp với biểu tượng “Hachi” (có nghĩa là tám) thường được tìm thấy trên các bình rượu sake mà các bức tượng cầm.Tám nét đó là: một cái mũ sẵn sàng bảo vệ người dân khỏi rắc rối hay thời tiết xấu; con mắt to để nhận thức được tình hình môi trường và giúp người ta lựa chọn đúng đắn; một bình rượu sake tượng trưng cho đức hạnh; cái đuôi lớn là để chuẩn bị sự chín chắn và sức mạnh đến khi đạt được thành công; hòn dái quá cỡ là biểu tượng may mắn về tiền bạc; một mảnh giấy hẹn ước tượng trưng cho sự tin tưởng hay sự tự tin; cái bụng bự là biểu tượng của sự quyết định dũng cảm và điềm tĩnh; và một nụ cười thân thiện.

Một bài hát ở sân trường tại Nhật Bản (điệu nhạc bài hát có thể được nghe trong trò chơi dãy cuốn Ponpoko và được thay đổi khi hát trường quay phim Ghibli, lúc quay bộ phim Pom Poko), hoàn toàn ám chỉ thẳng thuật mổ xẻ của tanuki:

 

Một bức tượng

Tan Tan Tanuki no kintama wa, Kaze mo nai no ni,

Bura bura

Tạm dịch:

Hòn dái của Tan-tan-tanuki Không hề có gió nhưng cứ

Lắc lư lắc lư

Nó vẫn có nhiều câu thơ khác nhau, khác tuỳ vùng miền. Nó được hát dưới giai điệu của một bài thánh ca trong buổi lễ Rửa tội ở Mĩ, có tên là “Chúng ta có nên tập trung đến bên dòng sông?”. Trong ngành luyện kim, da của tanuki thường được sử dụng để pha loãng vàng. Theo như một kết quả, tanuki đã cộng tác cùng một số kim loại và thuật luyện kim. Các bức tượng tanuki nhỏ được đặt trang trí ở sân trước, và bùa may mắn để mang đến sự thịnh vượng. Cũng vì thế, đó là lý do tại sao được miêu tả là có một cái kintama (金玉, có nghĩa là banh vàng, cũng có nghĩa là hòn dái trong ngôn ngữ tự nhiên ở Nhật Bản) lớn.

Cập nhật thông tin chi tiết về Lên Núi Tuyết Zao Nhật Bản Ngắm ‘Rừng Quái Vật’ Đầy Ma Mị Như Trong Phim trên website Hsnf.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!